I. Chủ đề Gia đình
1. Cái áo của Ba (Phạm Hải Lê Châu)
Tôi có một người bạn đồng hành quý báu từ ngày tôi còn là đứa bé 11 tuổi. Đó là chiếc áo sơ mi vải Tô Châu, dày mịn, màu cỏ úa.
Chiếc áo sờn vai của ba dưới bàn tay vén khéo của mẹ đã trở thành cái áo xinh xinh, trông rất oách của tôi. Những đường khâu đều đặn như khâu máy, thoáng nhìn qua khó mà biết được đấy chỉ là một cái áo may tay. Hàng khuy thẳng tắp như hàng quân trong đội duyệt binh. Cái cổ áo như hai lá non trông thật dễ thương. Mẹ còn may cả cái cầu vai y hệt như chiếc áo quân phục thật sự. Cái măng sét ôm khít lấy cổ tay tôi.
Khi cần, tôi có thể mở khuy và xắn áo lên gọn gàng. Mặc áo vào, tôi có cảm giác như vòng tay ba mạnh mẽ và yêu thương đang ôm lấy tôi, tôi như được dựa vào lồng ngực ấm áp của ba... Lúc tôi mặc đến trường, các bạn và cô giáo đều gọi tôi là “Chú bộ đội”. Có bạn hỏi “Cậu có cái áo thích thật! Mua ở đâu thế?” “ Mẹ tớ may đấy!” Tôi hãnh diện trả lời.
Ba đã hy sinh trong một lần đi tuần tra biên giới, chưa kịp thấy tôi chững chạc như một anh lính tí hon trong một cái áo chữa lại từ chiếc áo quân phục của ba.
Mấy chục năm đã qua, chiếc áo còn nguyên như ngày nào mặc dù cuộc sống của chúng tôi đã có nhiều thay đổi. Chiếc áo đã trở thành kỉ vật thiêng liêng của tôi và cả gia đình tôi.
PHẠM HẢI LÊ CHÂU
2. Con muốn làm một cái cây (Võ Thu Hương)
3. Mẹ Tôi (Phong Thư)
4. Cúc áo của Mẹ (Nhất Băng)
5. Tình Cha (Nguyễn Anh Đào)
Mắt sáng ngời, cha tôi ôm thằng cu Tuấn, thằng cu Bi, một đứa cháu nội, một đứa cháu ngoại vào lòng, vừa hôn, vừa nựng chúng trong niềm hạnh phúc khôn tả. Nước mắt tôi lưng tròng.
Tôi thương cha. Cả một đời vượt qua bao nhiêu đớn đau, bệnh tật và khốn khó của đời sống vật chất mà không ít người trong hoàn cảnh tương tự đã nản chí, nản lòng, buông xuôi, mặc cho số phận đến đâu thì đến, nhưng với cha tôi thì không vậy.
Cha mẹ tôi sinh hạ được hai người con, một trai, một gái. Nếu như không gặp những bất trắc trong cuộc đời thì gia đình tôi cũng khấm khá như bao gia đình khác. Cha tôi sinh ra và lớn lên ở một vùng quê hẻo lánh. Con nhà nghèo, nhưng cha tôi rất chịu khó học hành và học rất giỏi. Nhà quê ngày ấy không có điện như bây giờ, chỉ với ngọn đèn dầu hỏa ấy thế mà cha tôi được đi thi học sinh giỏi ở huyện, ở tỉnh. Sau này cha được vào đại học, rồi tốt nghiệp ra trường được phân công về công tác ở một nhà máy lớn.
Cha gặp mẹ qua một mối tình lãng mạn. Mẹ đến thực tập ở nhà máy, hai người quen nhau và sau này họ thành vợ thành chồng. Hai anh em tôi ra đời trong tình yêu vô bờ bến của cha của mẹ. Ðất nước vẫn còn giặc, cha lên đường nhập ngũ, hai năm vào chiến trường cha tôi bị thương. Vết thương quái ác làm cột sống của cha vẹo đi, chân teo dần, cha thành người bán thân bất toại... Cha ra bắc an dưỡng được hơn hai tháng thì mẹ xin cho cha về nhà để được trực tiếp nuôi dưỡng. Mẹ đi khắp mọi nơi tìm thầy, nơi nào họ mách có thuốc hay, thầy giỏi là mẹ lên đường, chẳng kể ngày hay đêm, hết đắp lại uống, đủ kiểu. Ba năm sau cha tôi như người từ cõi chết trở về. Cha túc tắc tập đi, tập tự tắm lấy, tự vệ sinh lấy... Sức khỏe của cha dần dần hồi phục. Mẹ mừng lắm, như trẻ lại mấy tuổi. Lúc đó chúng tôi đã vào học cấp ba, đời sống lại càng khó khăn hơn. Nhưng thật không may cho cha con tôi, mẹ tôi ngã bệnh, bà mất trong sự đớn đau vô hạn của cha con tôi. Cha nuốt nước mắt vào lòng, không khóc. Hằng đêm cha ngồi lặng lẽ như kẻ vô hồn trước di ảnh của mẹ. Nỗi đau cứ trải dài, thâu đêm suốt sáng...
Hai anh em tôi vẫn hằng ngày cắp sách tới trường. Ngoài suất lương thương binh của cha, lúc rảnh anh trai tôi đi bán bánh mì, tôi đi bán ngô nướng. Một hôm cha bảo:
- Thu này! Cha muốn xuống xóm Ðán trông coi nhà cho bác Phú, bác ấy vào nam với mấy cậu con, chẳng biết đến bao giờ mới về. Nhà ta cho thuê, còn ở Ðán cha con ta trồng rau, nuôi con gà con lợn để có thêm thu nhập, lấy tiền cho con ăn học.
- Nhưng cha thì bệnh tình như vậy, ai làm hả cha?
- Cha sẽ làm, làm túc tắc con ạ!
Tôi đồng ý để chiều lòng cha. Ở nơi rộng rãi, cha bắt đầu trồng rau, nuôi thêm mấy con gà, rồi cha nuôi thêm đôi lợn. Nhìn cha đi lại khó khăn, lúc cúc chăm gà, chăm rau... trong lòng tôi dấy lên một nỗi niềm thương cha vô hạn. Nhưng thật trớ trêu, tai họa lại ập đến với cha tôi. Chỉ vì thấy cây trứng gà rậm rạp che khuất mất vườn trồng rau, cha bắc ghế trèo lên để phạt bớt mấy cành, nhưng chiếc ghế bị nghiêng, cha ngã nhào xuống đất, vết thương cũ lại tái phát. Cha phải nằm viện liền mấy tháng trời bệnh tình mới đỡ. Về nhà cha lại trồng rau, nuôi lợn, nuôi gà kiếm thêm đồng ra đồng vào.
Năm tôi thi đỗ vào Trường đại học Ngoại ngữ ở Hà Nội, cha cầm sổ đỏ đi thế chấp ngân hàng để lấy tiền cho tôi ăn học. Ðược gần một năm, không an tâm ngồi rỗi, cha lên tàu xuôi Hà Nội. Mấy ngày đầu cha cứ bước một, bước một đi quanh quẩn xem xét nơi này, chỗ kia, chung quanh nơi hai cha con ở trọ. Một thời gian sau ông làm quen được với một ông bạn già cùng tuổi, hai ông rủ nhau trông xe đạp, xe máy ở khu tập thể. Ông bạn của cha khỏe hơn thì nhận xe vào bãi rồi dắt xe ra trả, cha yếu hơn thì ghi phiếu nhận tiền, cứ như thế, ngày nắng cũng như ngày mưa, cha đã trụ lại đất Hà Nội gần 5 năm trời với tôi. Khi tôi học xong, xin việc làm ở Hà Nội ông mới lại quay trở về Thái Nguyên trông coi nhà cửa. Anh trai tôi cũng đã ra trường, có việc làm, tuy đồng lương ít ỏi nhưng gia đình cũng bắt đầu không phải đi vay mượn nữa. Ðời sống của cha con dần dần cũng đủ ăn đủ tiêu. Lúc này cha tôi thường giục tôi:
- Con lấy chồng đi để cha nhìn thấy cháu ngoại trước khi nhắm mắt!
Tôi vừa cười vừa nói với cha:
- Cha còn lâu mới chết, con còn đi học thêm nữa cha ạ!
- Con thương cha thì con lấy chồng sớm cho cha yên lòng.
Tuy cự nự như vậy, nhưng thương cha, tôi quyết định lấy chồng. Ðám cưới của tôi giản dị nhưng vui. Cha là người vui nhất, ông chống gậy đi đi lại lại, khuôn mặt sáng bừng lên một niềm kiêu hãnh và hạnh phúc.
Tôi lấy chồng tròn năm thì anh trai tôi cũng xây dựng gia đình. Chị dâu tôi là một người phụ nữ đẹp người, tốt nết, khi chị đang yêu anh, không ít người gièm pha, bóng gió:
- Mày lấy nó là để hầu bố nó phải không?
Rồi thì:
- Gia cảnh nhà nó buồn đến chết, sáng nhìn thấy người què, chiều nhìn thấy người què...
Nhưng chị dâu tôi thật sự yêu anh tôi. Anh chị làm đám cưới sau hai năm yêu nhau, rồi chị sinh cho cha tôi một đứa cháu trai đẹp như một thiên thần.
Tuy ở Hà Nội, nhưng tháng nào tôi cũng bắt chồng tôi đưa hai mẹ con về thăm cha. Mỗi lần về thăm cha thường bảo:
- Nhà mình tuy nghèo nhưng cũng đã yên ổn, các con có công ăn việc làm, các cháu ngoan, cha lấy làm hạnh phúc và mãn nguyện lắm rồi. Bây giờ mẹ con có gọi cha đi, cha cũng vui lòng!
Tôi nói với cha:
- Chúng con được như ngày hôm nay là nhờ vào tình thương của cha, nói dại cha mà mất sớm thì chúng con chắc chẳng nên người! Cha phải sống mà nhìn các cháu của cha trưởng thành chứ!
Cha rơm rớm nước mắt, lặng lẽ nhìn về nơi xa xôi.
Cha vẫn vậy, vẫn chiếc gậy trúc nhấc một nhấc một, cười đùa với hai đứa cháu nội ngoại mỗi ngày. Tôi thường ngồi ngắm cha, trong lòng dạt dào tình cha con.
(Nguyễn Anh Đào)
II. Chủ đề Bạn bè
1. Tình bạn
Tình bạn, đó là thứ tình cảm xuất hiện khi bạn kết thân với một ai đó, hoặc đơn thuần là chỉ chơi đùa cùng với họ… Vậy xét ra tình bạn là tình cảm thiêng liêng đáng quý, đem lại niềm vui và hạnh phúc cho mỗi chúng ta. Tôi có một người bạn, những kí ức của tôi về cậu ấy thật đa dạng và muôn vẻ: vui có, buồn có, hạnh phúc và sẻ chia, đều có… Nhưng giữa tôi và cậu ấy- Nam, có một thứ mà đến tận giờ phút này tôi vẫn hoài nghi liệu có nên cho rằng giữa chúng tôi có một tình bạn thực sự hay không?
Chỉ nhắc đến tên thôi là tôi đã hình dung ra một cách rõ nét về cậu ta. Nam đã từng là một cậu bé gầy gò, da ngăm đen, hơi ngả màu nắng gió. Nói một cách vần vè thì dáng người đã nhỏ con, lại hay lon ton, chạy nhảy trông chẳng khác gì một chú khỉ con- năng nổ, hoạt bát. Tôi nhớ nhất là đôi mắt của cậu ấy, thật to, tròn và rất sáng, toát lên một vẻ vô cùng thông minh. Đặc biệt là mỗi khi nhìn vào đôi mắt ấy, tôi lại muốn làm thân với Nam ngay mặc dù hai đứa vừa xích mích ẩu đả ngay trước đó.
Đó cũng là tất cả những gì in sâu trong trí óc tôi khi muốn gợi lại những hình ảnh đẹp đẽ và trong trẻo thời tiểu học khi tôi và Nam từng là một cặp bài trùng- những hình ảnh mà tôi quý giá vô ngần. Cũng có thể là vì chúng tôi không còn được học chung với nhau nữa kể từ khi chuyển lên trung học cơ sở. Tuy học cùng lớp nhưng thực ra nhà tôi và nhà Nam đều xa trường và cách xa nhau hàng chục cây số. Lên cấp 2, chúng tôi đều chọn những ngôi trường gần nhà và bặt tin nhau từ đó. Quá khứ đã khép lại bao giờ cũng được phủ lên một màn sương tuyệt đẹp của sự tiếc nuối, đó là quy luật!
Khi chuyển lên cấp học trung học phổ thông, bố mẹ đã tạo điều kiện cho tôi chuyển từ trường làng ra thủ đô để tìm môi trường học tập tốt nhất cho mình. Và thật bất ngờ! Ở ngôi trường xa lạ này, tôi đã gặp lại Nam sau 4 năm trời xa cách. Chắc chắn tôi không hề nhầm! Trần Đức Nam- cái tên rõ rành rành trên tờ danh sách lớp thế này cơ mà! Lại cộng thêm cột ngày sinh 17/11/1997 làm tôi càng thêm hào hứng và hồi hộp khi chuẩn bị gặp lại bạn cũ của mình. Quả đúng là Nam rồi, tôi mới chỉ chạy đến cửa lớp thôi đã nhìn thấy cậu ta: cái dáng vẫn gầy gầy xương xương như ngày nào, vẫn là cái màu da ấy- màu da như bị sương nắng phủ lên, ngăm ngăm đen. Cậu ấy đang nói chuyện với người bên cạnh, quàng vai bá cổ nhau thân thiết, chẳng ra dáng một học sinh lớp 10 bỡ ngỡ và rụt rè tẹo nào. Chợt trong đầu tôi lại thoáng ngờ ngợ, liệu người kia có đúng là thằng Nam bạn mình không? Hình dáng thì đúng rồi, nhưng phong thái thì hình như không phải???
Nhưng khi cậu ta quay mặt sang thì tôi không còn phải băn khoăn nữa. Đôi mắt sáng thông minh kia không thể lẫn với bất cứ ai trên trái đất này được! Tôi đánh liều gọi to:
- Ê, cậu là Đức Nam phải không?
Cậu ta quay lại, vẻ ngạc nhiên:
- Ừ, sao ông biết tên tôi?
- Tôi… tao là Thắng, học ở trường tiểu học Bình An, lớp 1A ấy!
Nam hơi nhăn mặt, gãi đầu, rồi bảo:
- À… à… Tôi quên rồi!
Nghe xong câu ấy, trong tôi dâng lên một cảm xúc thật khó tả, vừa đỏ chín cả người vì ngượng, lại có một chút gì đó hụt hẫng, và điều khiến đầu óc tôi trống rỗng nhất chính là: Nam không nhớ tôi- thằng bạn thân nhất thời thơ ấu- là ai. Bực tức hơn là thái độ của cậu ta khi ấy, trả lời tôi xong Nam thản nhiên quay phắt sang đám bạn mới cười ngả ngớn. Cũng là giọng cười ấy nhưng sao giờ đây nghe ồm ồm và xa lạ quá. Nam đây sao? Người anh em kề vai sát cánh suốt 5 năm tiểu học của tôi đây sao?
Tôi phải tìm một chỗ bàn trống để ngồi phịch xuống, để tránh đi những ánh mắt đang săm soi vào bộ mặt đỏ bừng vì xấu hổ của tôi. Lúc này ngồi yên một chỗ, để tâm trí lắng xuống, và quan sát người bạn cũ của mình, tôi đau lòng nhận ra rằng: cậu ta đúng là Nam rồi, nhưng chẳng phải là cậu bé Nam đáng yêu của ngày xưa nữa. Mái tóc của Nam giờ cắt tỉa theo kiểu dân chơi đua đòi, phía trước dựng ngược lên còn hai bên thì cạo trọc, nhìn chẳng khác nào tên du côn du đãng. Nam chỉ khoác chiếc áo học sinh thôi, còn bên dưới là chiếc quần jean bó sát có tỉa rách vài đường mô-đen làm tôi vô cùng nóng mắt. Khó chịu nhất là ngôn từ Nam sử dụng, toàn là những câu chữ chợ búa, giang hồ, xã hội đen vào bậc hạng nặng mà tôi từng nghe… Tôi không thể tin nổi vào mắt mình, vào tai mình nữa…
Bằng chút kiến thức nông cạn, tôi nhanh chóng kết luận rằng: đã 4 năm trôi qua, Nam đã trở thành một người khác, thuộc dạng du côn du đãng, là một phần tử xấu trong trường học. Nam hoàn toàn khác với tôi- tuy ngờ nghệch khù khờ nhưng bù lại là rất ngoan ngoãn. Cho dù chúng tôi đã từng là những thiên thần trong trẻo của thời quá khứ thì bây giờ cũng không tránh khỏi những đổi thay…
Và thật đáng buồn là thời gian cứ trôi đi một cách vô tình và lãng phí trong nỗi buồn về tình bạn của tôi. Cho đến giữa năm lớp 10, Nam và tôi mới nói chuyện với nhau vài lần, nhắc lại những kỉ niệm ngày nhỏ, nhưng rời rạc và nhạt nhẽo. Bởi chúng tôi quá khác nhau. Và cũng bởi trong thâm tâm tôi không muốn xen vào cái thế giới mịt mù u mê tăm tối mà Nam đang đắm chìm. Tôi sợ gần mực mình sẽ bị đen mất! Thôi thà… không là bạn còn hơn! Tôi nhủ thầm như vậy!
Cho đến hôm họp phụ huynh cuối năm, mẹ tôi và mẹ Nam gặp lại nhau đã vô cùng bất ngờ và mừng rỡ (tôi không kể gì với mẹ về Nam, và chắc cậu ta cũng thế). Cách xa quê nhà hàng mấy chục cây số, lại có dịp gặp đồng hương, hai người tíu tít chuyện trò không dứt. Qua những lời mẹ Nam tâm sự với mẹ tôi, tôi mới thực sự thấu hiểu sự đổi thay của Nam và đau lòng ghê gớm!
Nhà Nam nghèo lắm, để trang trải cho hai anh em Nam ăn học, mẹ Nam đã phải hàng ngày chạy xe từ quê lên tận chợ Láng Hạ để buôn bán hoa quả. Tôi nghĩ đến quãng đường hàng ngày mẹ Nam phải đi mà rùng mình, đi sớm về muộn, ngày nắng không sao, ngày mưa gió, rét mướt thì thật khổ sở. Vất vả là thế mà lúc nào cũng thiếu trước hụt sau bởi ngoài việc nuôi con, mẹ Nam còn phải gánh thêm ông chồng vô tích sự. Bố Nam là một con nghiện nặng, không phải nghiện ma túy mà là nghiện cờ bạc, phải nói là mê cuồng. Bố Nam đã bán hết tài sản trong nhà, cầm cố xe máy và đồ đạc, vay nợ tứ tung để thỏa mãn thú vui cờ bạc. Những lúc không xoay được tiền, bố Nam sẵn sàng thượng cẳng chân hạ cẳng tay với mẹ con Nam. Cách đây nửa năm, bố Nam đã trốn khỏi nhà, bỏ lại ba mẹ con ngập trong đống nợ chồng chất mà ông để lại. Ngày nào 3 mẹ con cũng bị chủ nợ đến quấy rầy, đe dọa… Nam chán chường nên tuột dốc lúc nào không hay… Mẹ Nam cũng cho biết thêm, năm học tới đây sẽ chuyển trường cho Nam về quê ngoại vì mẹ Nam không còn đủ sức nuôi con ăn học được nữa, phải nhờ vào sự trợ giúp của họ hàng.
Lúc này, khi viết lại câu chuyện này, tôi tự trách mình rằng, bao nhiêu năm qua tôi làm bạn với Nam làm gì khi gia cảnh nhà bạn thế nào tôi cũng cũng không hề hay biết. Thế mà tôi đã vội phán xét, chỉ trích và cho rằng Nam không xứng đáng là bạn của mình. Để thay đổi thành người như hôm nay, Nam thật đáng trách, nhưng cũng thật đáng thương. Tôi là bạn, bạn đúng nghĩa, thì tôi phải có trách nhiệm giúp Nam tìm lại chính bản thân mình. Tôi biết điều đó không hề đơn giản. Người ta vẫn thường nói đi xuống dốc dễ dàng bao nhiêu thì việc bước từng bước để leo lên dốc lại khó khăn bấy nhiêu! Nhưng tôi tin chỉ cần quyết tâm, chỉ cần có đủ tình yêu thương và niềm tin, người ta có thể làm được tất cả. Nam ơi, cho tao xin lỗi nhé! Và tao hứa chắc chắn tao sẽ làm được một điều gì đó tốt đẹp cho mày!
2. Sức mạnh của tình bạn
Ở trung tâm của một thành phố nhộn nhịp, có một thư viện cũ bị bỏ hoang. Những giá sách đầy bụi bặm, những cuốn sách bị lãng quên, và bầu không khí hoang vắng ngự trị. Giữa đống đổ nát của nơi bị lãng quên này, hai người bạn không ngờ tới đã tìm thấy nhau.
Sophie, một cô gái trẻ tò mò và đam mê truyện cổ tích, lang thang vào thư viện vào một buổi chiều mưa. Cô có sở thích phiêu lưu và khao khát kiến thức. Và ở đó, giữa những giá sách bị lãng quên, cô tình cờ tìm được một cuốn sách cũ kỹ và rách nát.
Cùng lúc đó, ẩn đằng sau những chiếc kệ là Max, một cậu bé nhút nhát và sống hướng nội, thích tìm kiếm niềm an ủi trong những góc yên tĩnh của thư viện.
Con đường của hai người giao nhau khi Sophie vô tình phát hiện ra nơi ẩn náu của Max. Lúc đầu, Max còn do dự, nhưng thái độ nhiệt tình của Sophie đã nhanh chóng chinh phục được anh. Cùng nhau, họ bắt đầu cuộc hành trình xuyên qua những trang sách, khám phá những vùng đất xa xôi, giải quyết những bí ẩn và khám phá điều kỳ diệu ẩn ẩn giấu trong các “áng văn”.
Cùng với thời gian, mối quan hệ của họ ngày càng thêm bền chặt hơn. Với lòng dũng cảm của Sophie và trí tuệ của Max, hai người trở thành một bộ đôi không thể rời xa, truyền cảm hứng cho nhau vươn đến những tầm cao mới.
Nhưng thời gian trôi qua, thư viện phải đối mặt với nguy cơ đóng cửa. Hội đồng thành phố cho rằng nó đã lỗi thời và không còn phù hợp nữa. Quyết tâm cứu lấy “khu bảo tồn” yêu quý của mình, Sophie và Max đã tập hợp cộng đồng lại.
Họ tổ chức các đợt phát sách, các sự kiện đọc sách và truyền bá về sự kỳ diệu của việc kể chuyện. Niềm đam mê của họ đã thắp lên ngọn lửa trong lòng người dân thị trấn, và chẳng bao lâu sau, thư viện lại trở nên sôi động trở lại.
Cuối cùng, nỗ lực của họ đã được đền đáp. Hội đồng thành phố công nhận giá trị của thư viện, không chỉ là kho lưu trữ sách mà còn là nơi rèn luyện tình bạn, nuôi dưỡng ước mơ và “khai phóng” tư duy.
Khi thư viện phát triển trở lại, Sophie và Max đã sát cánh bên nhau, biết rằng tình bạn của họ không chỉ cứu được một tòa nhà mà còn chạm đến cuộc sống của những người xung quanh. Và trong khoảnh khắc đó, họ nhận ra sức mạnh thực sự của tình bạn.
3. Lời hứa dưới ánh sao
Tại một thị trấn nhỏ ven biển, có hai người bạn thân là Lily và James. Kể từ khi họ gặp nhau thời còn nhỏ, giữa hai người đã hình thành một mối liên hệ không thể phá vỡ, giống như hình với bóng.
Lily là một nghệ sĩ có trái tim đầy ước mơ và đa sắc thái. Trong khi đó, James là một người suy nghĩ thực tế và dựa trên căn cứ – nhưng luôn sẵn sàng ủng hộ ước mơ của bạn mình. Cùng nhau, họ đã vượt qua nhiều bờ biển, chinh phục những vách núi, trải qua những đêm chia sẻ niềm hy vọng cũng như nỗi sợ hãi dưới bầu trời rộng lớn đầy sao.
Một buổi tối mùa hè, khi họ ngồi trên bãi biển đếm sao và suy nghĩ về tương lai, Lily chia sẻ với James ước mơ lớn nhất của cô – được tổ chức một cuộc triển lãm nghệ thuật trưng bày các bức tranh của mình. Nhưng nỗi nghi ngờ xâm chiếm tâm trí cô, và cô sợ rằng mình không xứng đáng.
James, người luôn ủng hộ cô, đã trấn an cô với một niềm tin vững chắc. “Những bức tranh của bạn là phản ánh tâm hồn của bạn, Lily. Chúng rất đẹp – vì đó đích thực là bạn. Đừng để nỗi sợ hãi khiến bạn chùn bước.”
Được khích lệ bởi những lời của James, Lily quyết định theo đuổi ước mơ của mình. Cô dồn cả trái tim và tâm hồn vào những bức tranh, cố gắng truyền tải từng cung bậc cảm xúc lên khung vẽ. Trong khi đó, James luôn sát cánh bên cô, giúp đỡ và hỗ trợ tinh thần trên mỗi bước đường.
Nhiều tháng trôi qua, cuối cùng cũng đếng này tổ chức triển lãm nghệ thuật của Lily. Phòng trưng bày đầy những người ngưỡng mộ tác phẩm của cô, và trái tim Lily tràn ngập niềm tự hào. Nhưng nhiều giờ trôi qua, nỗi nghi ngờ lại bắt đầu len lỏi vào tâm trí cô. Điều gì sẽ xảy ra nếu không ai thích tranh của cô? Nếu cô thất bại thì sao?
Cảm nhận được sự bất an của Lily, James nắm tay và dẫn cô ra ngoài. Họ ngồi dưới bầu trời đầy sao, y như lần họ đã chia sẻ về những ước mơ của mình khi còn nhỏ. James chỉ vào ngôi sao sáng nhất và nói.
“Lily, thấy ngôi sao đó không? Nó cũng giống như tài năng của bạn vậy – sáng sủa, độc đáo và không thể bỏ qua. Cho dù tối nay có chuyện gì xảy ra, hãy nhớ rằng tài năng và sự nỗ lực của bạn đã chạm đến trái tim, kể cả trái tim tôi. Tôi tin tưởng vào bạn.”
Nhờ những lời nói của James, Lily trở lại phòng trưng bày với một sự tự tin mới. Trước sự ngạc nhiên của cô, những bức tranh của cô đã thực sự chạm tới tâm hồn của những người xem. Nước mắt, tiếng cười, bao trái tim đã rung động trước vẻ đẹp từ các tác phẩm của cô.
Khi màn đêm dần kết thúc, cuộc triển lãm của Lily đã trở thành một thắng lợi lớn. Nhưng hơn cả những lời khen ngợi và ngưỡng mộ, Lily trân trọng nhất sự ủng hộ không ngừng nghỉ của người bạn thân James. Nhờ niềm tin của anh, cô đã tìm thấy dũng khí để tỏa sáng rực rỡ như bầu trời đầy sao.
4. Màu sắc của tình bạn
Xanh lá cây nói :
"Rõ ràng tớ là quan trọng nhất.Tớ là màu của sự sống,của hi vọng.Tớ được chọn cho cỏ cây,hoa lá.Không có tớ,các loài động vật sẽ chết hết.Nhìn những vùng đồng quê kia kìa,rồi các cậu sẽ thấy tớ quan trọng như thế nào."
Xanh dương cắt ngang :
"Cậu chỉ nghĩ về đất đai thôi,hãy nghĩ về bầu trời và biển cả.Nước là sự sống và đựơc tạo bởi những đám mây kia.Bầu trời tạo khoảng cách , hòa bình và sự yên tĩnh.Không có tớ,cậu chẳng là gì cả."
Màu vàng lắc đầu :
"Cả hai cậu đều nghiêm trọng quá.Tớ mang tiếng cừơi,sự hân hoan và ấm áp đến thế giới này.Mặt trời màu vàng,mặt trăng màu vàng,cả các vì sao cũng màu vàng nốt.Mỗi khi nhìn một bông hoa hướng dương như là cả thế giới đang cười.Không có tớ hả,sẽ chẳng có sự vui tươi.
Màu cam la lớn:
"Tớ là màu sắc của sức khỏe và sự mạnh mẽ.Tớ có thể hiếm nhưng quý giá,tớ tạo ra những thứ cần thiết cho con người.Tớ mang những sinh tố quan trọng nhất.Thử nghĩ về cà rốt,bí đỏ,cam,xoài,và đu đủ xem.Tớ không ở ngoài suốt ngày,nhưng khi tớ xuất hiện lúc bình minh hay hoàng hôn,vẻ đẹp của tớ hấp dẫn đến nỗi chẳng ai nghĩ đến các cậu."
Màu đỏ không chịu nổi nữa và hét to:
" Tớ mới là người đứng đầu đây nè. Tớ là máu - máu của sự sống ! Tớ là màu của nguy hiểm và dũng cảm.Tớ sẵn sàng đấu tranh cho mục đích của mình.Tớ mang lửa và máu.Không có tớ,cả thế giới này sẽ trống trải như mặt trăng ấy.Tớ,màu của tình yêu nồng cháy,của hoa hồng đỏ thắm,của ngọn lửa mãnh liệt."
Màu tím đứng dậy và trịnh trọng nói:
" Tớ là màu của hoàng gia và sức mạnh.Các vị vua,thủ lĩnh hay các giám mục luôn luôn chọn tớ vì tớ là biểu tượng của quyền lực và sự khôn ngoan.Người ta không hỏi tớ! Họ chỉ lắng nghe và tuân theo."
Cuối cùng màu chàm lên tiếng,nhỏ nhẹ hơn nhưng màu khác,nhưng với sự cứng rắn hơn trong từng lời nói:
"Coi tớ đây.Tớ là màu của sự im lặng.Khó có thể nhận ra tớ, nhưng nếu không có tớ, tất cả các cậu đều trở nên nông cạn.Tớ tượng trưng cho suy nghĩ và phản xạ, lúc tảng sáng hay về chiều và màu nứơc thẳm.Các cậu cần tớ cho sự cân bằng và tương phản, trong cầu nguyện và sự hòa bình."
Và như vậy mỗi màu sắc quả quyết màu của mình là đẹp nhất. Họ tranh cãi lớn hơn và lớn hơn.Đột nhiên, một tiếng sét bất chợt vang lên. Mưa bắt đầu rơi nặng hạt. Các màu sắc run rẩy, xích lại gần nhau để bớt sợ. Giữa lúc sấm sét ầm ĩ, mưa lên tiếng :
"Lũ màu sắc các người thật ngu ngốc,đấu đá lẫn nhau để chứng tỏ mình nổi trội hơn những kẻ khác.Các người không biết rằng mỗi một cá thể đựoc tạo ra bởi một lý do đặc biệt,duy nhất và khác biệt ư? Hãy nắm lấy tay nhau và đến đây."
Làm theo lời của mưa,các màu sắc liên kết lại và nắm lấy tay nhau. Mưa tiếp tục:
"Bắt đầu từ bây giờ,khi trời mua,mỗi màu sắc sẽ trải dài dọc bầu trời trong một chiếc vồng lớn để nhắc nhở các ngươi nên chung sống với nhau trong hòa bình.Cầu vồng là sự hiện diện của hi vọng cho ngày mai."
Và như vậy,cứ mỗi khi mưa tạnh,cầu vồng lại xuất hiện để nhắc chúng ta nhớ và cảm ơn đến những người khác.
5. Bán tóc đãi bạn (Truyện Cổ tích)
Ngày xưa, có ba người học trò là Tùng, Trúc, Mai, quê ở ba miền khác nhau, tình cờ cùng học với nhau một thầy. Cha mẹ họ đều nghèo túng nhưng vẫn cố gắng cho con đi học. Trong những ngày xa nhà vùi đầu vào sách vở, bộ ba ấy kết bạn với nhau rất thân thiết. Họ ước với nhau rằng nếu sau này người nào làm ăn khấm khá thì sẽ không quên những người cùng sống trong buổi hàn vi, và sẽ cố tìm cách giúp đỡ bạn qua cơn nghèo ngặt. Sau một thời gian học hành, cả ba người đều vì hoàn cảnh nên từ giã nhau mỗi người đi một ngả.
Tùng là người thứ nhất có số phận trở nên may mắn. Sẵn có óc thông minh, anh cố công theo đuổi nghiệp sách đèn. Vì hoàn cảnh nghèo khó, anh xin theo hầu một cụ Nghè để vừa được ăn vừa được học. Thấy anh học giỏi, cụ Nghè hết lòng dạy dỗ, coi anh như con. Trải mấy năm trường sôi kinh nấu sử, cuối cùng anh thi đỗ tiến sĩ và được bổ làm quan ở kinh đô. Từ đấy cuộc sống của Tùng lên như điều gặp gió, khó có ai theo kịp.
Tuy sống trong cảnh giàu sang, Tùng vẫn không quên những người bạn đèn sách xưa kia. Cho nên, một hôm, Tùng xin phép nghỉ việc công để đi tìm bạn. Sợ đi có cáng xá lính hầu sẽ làm phiền đến mọi người, nên anh cải trang làm một người dân thường. Không bao lâu anh đã tìm tới nhà Trúc, một trong hai người bạn thân ngày trước.
Lại nói chuyện Trúc từ ngày thôi học, được thừa hưởng một phần ruộng đất của ông bà bên ngoại để lại. Hắn ta biết cách xoay sở và chịu khó. Vì thế chỉ trong mươi năm, hắn đã trở nên khá giả: ruộng sâu trâu nái, vườn cau ao cá đủ cung cấp cho hắn và gia đình sống một cuộc đời sung túc. Nhưng Trúc tính khí biển lận. Tuy giàu có, hắn vẫn không muốn mất cho ai một đồng một chữ nào. Cũng vì thế, hắn quên mất cả những lời hứa hẹn với mấy người bạn nối khố ngày xưa: “Ôi dào! Tìm làm gì cho mất công. Các ông ấy cũng chả nhớ gì đến bạn nữa là ta”. Nghĩ vậy, Trúc rất yên tâm về hành động của mình.
Khi gặp Trúc, thấy Trúc giàu có, để thử lòng bạn cũ. Tùng không nói vội đến hoàn cảnh đỗ đạt của bản thân: chỉ cho biết rằng vì nhớ bạn nên anh tìm đến nhà chơi. Thấy bộ dạng bề ngoài của Tùng. Trúc đoán già đoán non rằng Tùng may lắm mới đủ ăn, nay tìm đến nhà mình không khéo lại dụng tình vay mượn chi đây. Nghĩ vậy, sau khi chào hỏi Tùng, Trúc cũng làm ra vẻ khó khăn:
– Thú thực với anh nếu không mắc mấy chuyện làm ăn thất bát thì tôi đâu có thua em kém chị thế này. Hồi ấy tôi đã định ra ngoài Huế tìm anh, nhưng vì mấy trận mất mùa liên tiếp, kế đó là một trận đói khủng khiếp, trong nhà có mấy thửa ruộng tổ nghiệp phải cầm đi, gần đây mới chuộc về được.
Trúc còn nói nhiều nữa, chủ tâm là để khóa mồm Tùng nếu hắn có ý định vay tiền. Và để tỏ ra là mình thực sự nghèo khó, Trúc đãi bạn theo mức bình thường. Buổi sáng hôm sau, khi người đầy tớ nhà Trúc đến thưa với chủ xin làm một mẻ lưới ở ao kiếm vài con mè béo đãi khách để y còn ra đồng cày ruộng, thì Trúc đã ngăn lại:
– Úy! “Dần bất khả hạ trì” (giờ Dần không nên xuống ao) mày lại không nhớ câu ngạn ngữ ấy ư? Mày muốn làm cho tao sạt nghiệp hay sao mà đòi bắt cá vào giờ này?
Biết ý chủ, người đày tớ lẳng lặng lui ra. Đến chiều hôm ấy, khi gà vào chuồng, vợ Trúc bảo người nhà nhốt riêng một con để giết thịt. Nhưng khi đưa gà ra cắt tiết, Trúc đã vội chạy xuống bếp:
– Ồ! “Dậu bất khả sát kê” (giờ Dậu không nên giết gà), bạn cũ tâm giao ăn gì mà chẳng được, còn giết gà vào giờ này thì kiêng lắm đấy!
Khi tới nhà Mai – người bạn nối khố thứ hai, Tùng vẫn khoác bộ cánh một người nghèo như lúc tới nhà Trúc. Và Tùng vẫn giấu kín không lộ cho Mai biết hoàn cảnh thực của mình. Mai từ lúc thôi học, trở về gặp cảnh nhà bấn bách, anh cố sức chèo chống nhưng không gặp thời. Anh đi buôn mấy chuyến bị lỗ vốn, quay sang dạy học thì bị ốm, có mấy sào ruộng tổ nghiệp phải bán đi để chạy thuốc. Cuối cùng hai vợ chồng phải làm nghề cày ruộng rẽ, có khi phải ngày ngày đi làm thuê mới đủ nuôi miệng. Tuy sống trong lều tranh vách đất, kiếm miếng ăn rất chật vật, nhưng hai vợ chồng không chút phàn nàn.
Thấy Tùng đến chơi nhà, Mai đón tiếp rất niềm nở. Mai giới thiệu bạn với vợ:
– Đây là người bạn thân thiết nhất ngày còn đi học với cụ đồ trên tỉnh. Từ dạo ấy đến giờ, dễ đến mười lăm năm. Mình nhớ chạy kiếm thứ gì về đãi anh ấy, nghe!
Tùng thấy vợ bạn vâng lời chồng cắp rổ đi chợ. Trưa lại, anh thấy người đàn bà ấy đội một rổ thức ăn về, nhưng trên đầu lại trùm một chiếc khăn đen mặc dầu không phải vào mùa gió rét. Lúc đầu Tùng không để ý. Sau đó, trong khi anh đi thơ thẩn ở hồi nhà thì thấy Mai và vợ kéo nhau vào buồng rì rầm trò chuyện. Ghé trông vào, một điều kinh ngạc đập vào mắt anh: lúc này vợ Mai đã lột bỏ chiếc khăn, nhưng mái tóc xanh trên đầu thì không còn nữa. Vì vậy, khi vợ chồng Mai bước ra khỏi buồng, Tùng vội hỏi lý do vì sao nàng lại cắt tóc. Biết không giấu được nữa, vợ Mai đành cắt nghĩa:
– Lúc sáng ra đi không có tiền, định hỏi mượn mấy người quen, họ cũng không sẵn. Nhân có nhà hàng tóc giả cần mua mấy lọn, sẵn có mớ tóc dài, tôi liền bán đi. Một đời một kiếp bạn mới đến chơi nhà, không lẽ ngồi nhìn nhau suông tình ư? Anh đừng ngại, tóc cắt đi rồi nó lại mọc, lo gì.
Tùng hết sức xúc động về hành động của vợ Mai. Anh bèn nói thật với bạn biết, nào chuyện mình thi đỗ làm quan, cất công tìm bạn, rồi đến nhà Trúc được y đối đãi tệ bạc thế nào, v.v… Nói xong, Tùng lục tay nải đưa ra cho vợ Mai một hộp trầu bằng vàng, và nói:
– “Cái răng cái tóc là góc con người“, tôi rất ân hận không được biết trước để ngăn chị đừng bán mất mái tóc quý giá. Nhưng cũng nhờ đấy mà tôi mới biết được tấm lòng vàng của chị. Bây giờ xin tặng chị vật này, chị cứ bán đi mà tiêu, sau này tóc dài, sẽ lại kiếm cách đi làm ăn.
Sau khi trở về được ít lâu, Tùng lại cho người đưa tiền đến cho Mai và cho Mai đi Nam Định học nghề thuộc da. Khi học đã thành nghề, Tùng còn giúp Mai mở một xưởng thuộc da ở ngay tại làng. Công việc kinh doanh của họ ngày một phát đạt. Mai còn đem nghề của mình truyền bá cho dân làng. Nghề thuộc da trở thành một nghề làm ăn thịnh vượng chưa từng có trong một vùng.
Còn Trúc mãi về sau mới nghe tin Tùng đã làm quan to ở kinh thì lấy làm ân hận. Kế đó lại nghe tin Mai nhờ Tùng mà làm ăn khấm khá. “Phải chi hồi đó ta tiếp bạn ta cho hậu, thì lo gì bạn ta lại không chạy cho được một chút phẩm hàm”, hắn bụng bảo dạ thế. Một hôm, hắn bèn khăn gói lần lượt tìm đến nhà hai người thăm hỏi. Song đến nhà ai, hắn cũng được tiếp đãi một cách nhạt nhẽo. Hắn đành tiu nghỉu trở về.
Sưu tầm và tổng hợp bởi: Hồ Hoàng Gia