ĐỀ. PHÂN TÍCH CHỦ ĐỀ VÀ ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN "CẢI ƠI!" – NGUYỄN NGỌC TƯ
NGỮ LIỆU:
Đoàn ca múa nhạc giải tán, thằng Quách Phú Thàn dẫn ông già Năm Nhỏ về ngã ba Sương, Thàn có nhỏ bồ mới quen bán quán ở đó. Con nhỏ tên Diễm Thương, nghe hay, mà khuôn mặt cũng hay, không đẹp nhưng bình thản, lạnh trơ, vui buồn không ra, đố ai biết nó nghĩ gì. Nó hất mái tóc nhuộm vàng hoe chơm chởm như rễ tre, nhìn hai người, cười héo hắt, "Ăn bám mà kéo theo cả bầy". Thàn cười hề hề, bảo "Ông Năm, bạn anh. Dễ thương lắm".
Ông đã đi tìm con nhỏ gần mười hai năm, đã đi qua chợ qua đồng, tới rất nhiều quê xứ. Lúc nhỏ Cải mười ba tuổi, một bữa mê chơi nó làm mất đôi trâu, sợ đòn, nó trốn nhà. Rồi con nhỏ không quay lại, vợ ông khóc lên khóc xuống, bảo chắc là ông để bụng chuyện nó là con của chồng trước nên ngược đãi, hà khắc, đuổi xua. Ông lấy trời đất, thần phật, rắn rít và cả kiếp sau ra thề nhưng bà không tin, giận chẳng nhìn, chớ thèm cười nói. Người ta còn đồn đãi ông giết con nhỏ rồi lấp ở một chỗ đất nào, họ ùn ùn lại coi. Ông khăn gói bỏ xứ ra đi, bụng dạ đinh ninh dứt khoát tìm được con Cải về.
(Lược một đoạn: mười hai năm ông theo đoàn hát rong đi khắp các miền quê, trước mỗi giờ diễn lại mượn micro rao tìm con; gặp Diễm Thương, cô gái bị cha mẹ bỏ rơi từ nhỏ, sống bất cần ở ngã ba Sương; có lần ông tưởng Diễm Thương chính là Cải trở về, để rồi vỡ mộng khi biết cô chỉ đùa cợt; đài truyền hình phát phóng sự về những phận người trôi dạt nơi ngã ba Sương, ông ao ước được lên sóng để nhắn lời với con nhưng không có dịp.)
Đêm đó, thằng Thàn ôm ông già Năm ngủ, ông cười, rù rì tính chuyện nấu mâm cơm cúng trời đất để sáp nhập nhỏ Diễm Thương về nhà bên nầy. Nửa đêm, Thàn giật mình tỉnh giấc, không thấy ông già, trên bụng rớt xuống một gói tiền. Xe kẹo kéo vẫn còn nguyên, Thàn kéo cửa bước ra ngoài.
Ông Năm đi ăn trộm chớ đâu. Ông lội bộ gần năm cây số trong mưa sụt sùi vô trong xóm, ghé chỗ lò mổ, dắt đôi trâu đem đi. Ông làm gọn gàng như với đôi trâu ở nhà. Sáng ra ông trở lại, ghé đúng ngôi nhà có hàng so đũa cặp mé lộ, ông thấy một đám người đang tao tác đứng ngồi, ông hỏi, mua trâu hôn, tui kẹt tiền đem bán đây nè. Chủ nhà chạy ra la lên, trời ơi, bắt ổng lại, ổng ăn trộm của tôi. Ông Năm giả đò hết hồn, nhưng trong bụng thấy trúng ý, bảo, từ từ, tui có chạy đâu mà sợ. Từ nhà người ta đưa ông lên ấp, ấp giải lên xã, ông ra bộ sợ sệt, luôn miệng nhắc, mấy chú nhớ kêu đài truyền hình xuống nghen, phải quay tui để dân người ta cảnh giác. May, đài tỉnh xuống thật, phóng viên một tờ báo cũng chạy xổ theo. Họ phỏng vấn ông chủ lò mổ, phỏng vấn trưởng công an xã, cuối cùng, ông Năm xin được nói đôi lời, còn dặn, mấy chú làm ơn đừng cắt bỏ tiếng tui, rằng "Cải ơi, ba là Năm Nhỏ nè, nhà mình ở Cỏ Cháy đó, nhớ không? Về nhà đi con, tội má con vò võ có một mình. Con là trọng, chứ đôi trâu cộ nhằm nhò gì... Về nghen con, ơi Cải...".
Nghe đâu, hôm đó, nhiều người rơi nước mắt, vì vậy mà vụ trộm trâu không được lên ti vi, sống giữa cái rẻo đất nhân hậu nầy nhiều khi cũng hơi phiền. Nghe đâu, hôm đó đài truyền hình có đưa tin nhưng chỉ thấy ông già nhép miệng một cách tuyệt vọng. Như đã nói, nhà đài người ta chớ có phải chợ trời đâu, mà có thể thoải mái gọi, "Cải ơi!".
(Nguyễn Ngọc Tư, "Cải ơi!", in trong tập "Cánh đồng bất tận", Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2013, tr.7-16. Sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập một, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, Bài 1 "Câu chuyện và điểm nhìn trong truyện kể", phần Thực hành đọc, tr.48-53.)
Chú thích tác giả, tác phẩm: Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976, quê ở tỉnh Cà Mau, là một trong những cây bút văn xuôi tiêu biểu nhất của vùng đồng bằng sông Cửu Long đương đại. Văn Nguyễn Ngọc Tư đậm chất Nam Bộ, viết về những phận người nhỏ bé, lam lũ, trôi dạt bằng một giọng văn vừa chân chất vừa xót xa. "Cải ơi!" được đặt vào phần Thực hành đọc, ngay sau hai truyện ngắn "Vợ nhặt" (Kim Lân) và "Chí Phèo" (Nam Cao), để học sinh nhận ra dòng mạch nhân đạo của văn xuôi Việt Nam vẫn tiếp nối từ nông thôn Bắc Bộ những năm 1940 đến sông nước Nam Bộ đương đại.
A. TÓM TẮT TÁC PHẨM
Ông Năm Nhỏ là cha dượng của Cải. Năm Cải mười ba tuổi, con bé mê chơi làm mất đôi trâu, sợ bị đòn nên bỏ trốn khỏi nhà và không bao giờ quay lại. Vợ ông đau đớn nghi ngờ chính ông đã ngược đãi con riêng của chồng trước nên đứa trẻ mới bỏ đi, thề thốt cách mấy bà cũng không tin, người đời còn đồn đại ông đã giết con rồi phi tang. Mang nỗi oan không cách nào gột rửa, ông bỏ xứ ra đi, quyết tìm cho được con Cải về. Gần mười hai năm ròng rã, ông theo chân một đoàn ca múa nhạc lưu diễn khắp các miền quê, trước mỗi giờ diễn lại mượn micro rao lên "Cải ơi, ba là Năm Nhỏ nè con". Ở ngã ba Sương, ông và Thàn, một ca sĩ nghèo trong đoàn, gặp Diễm Thương, cô gái bị chính cha mẹ ruột bỏ rơi từ nhỏ, sống bất cần giữa những quán nhậu ven đường. Có lúc ông tưởng Diễm Thương chính là Cải trở về, để rồi vỡ mộng chua chát khi biết cô chỉ đùa cợt cho vui. Nghe nói đài truyền hình có mục nhắn tìm người thân, ông khát khao được lên sóng nhưng mãi không có dịp. Cuối cùng, ông nghĩ ra một cách kỳ lạ, cố tình đi bắt trộm hai con trâu để bị tóm và giải lên xã, chỉ với hi vọng được ống kính truyền hình quay lại, để ông nói được câu nhắn gửi đứa con thất lạc. Ông toại nguyện nói được lời ấy trước máy quay, nhưng đài chỉ phát cảnh ông "nhép miệng một cách tuyệt vọng", lời gọi con thiêng liêng nhất bị cắt mất khỏi sóng truyền hình.
B. DÀN Ý CHI TIẾT: PHÂN TÍCH CHỦ ĐỀ VÀ ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN "CẢI ƠI!" – NGUYỄN NGỌC TƯ
I. MỞ BÀI
- Dẫn dắt bằng nhận định của Nguyễn Minh Châu: "Nhà văn tồn tại ở trên đời trước hết để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những con người bị cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn đến chân tường... để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực".
- Giới thiệu Nguyễn Ngọc Tư, cây bút tiêu biểu của văn xuôi Nam Bộ đương đại, và truyện ngắn "Cải ơi!".
- Nêu vấn đề nghị luận: chủ đề tình phụ tử vượt lên ranh giới máu mủ cùng nỗi oan khuất, day dứt của một người cha, và những nét đặc sắc nghệ thuật làm nên sức ám ảnh của tác phẩm.
II. THÂN BÀI
1. Khái quát chung về tác giả, tác phẩm
- Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn của những phận người bên lề vùng sông nước Nam Bộ, ngòi bút đằm thắm, giàu chất khẩu ngữ, thường lách sâu vào những nỗi đau âm thầm sau vẻ ngoài bình dị.
- Tác phẩm in trong tập "Cánh đồng bất tận" (2013), đặt trong SGK Ngữ văn 11 (Kết nối tri thức) ở phần Thực hành đọc, tiếp nối mạch nhân đạo từ "Vợ nhặt", "Chí Phèo".
- Cốt truyện xoay quanh hành trình gần mười hai năm ông Năm Nhỏ đi tìm đứa con riêng của vợ, khép lại bằng chi tiết ông cố tình để bị bắt vì "ăn trộm trâu" nhằm có cơ hội lên truyền hình nhắn lời với con.
2. Xác định và phân tích chủ đề
a. Xác định chủ đề
- Chủ đề cốt lõi: tình phụ tử thiêng liêng, không cần ràng buộc bởi huyết thống, cùng với đó là nỗi oan khuất, day dứt không nguôi của một người cha bị chính người thân nghi ngờ oan uổng.
- Đây là một đề tài không mới trong văn học viết về tình cảm gia đình, nhưng Nguyễn Ngọc Tư đã làm mới nó bằng cách đặt nhân vật vào tình thế vừa là nạn nhân của một hiểu lầm, vừa tự nguyện dấn thân vào một hành trình chuộc lỗi không có hồi kết, khiến chủ đề mang thêm chiều kích của sự bất công và lòng kiên nhẫn phi thường.
b. Triển khai luận điểm
b1. Biểu hiện qua nhan đề
- Nhan đề "Cải ơi!" là một tiếng gọi, không phải một mệnh đề trần thuật, cất lên da diết ngay từ tên truyện.
+ Đây là câu ông Năm Nhỏ lặp đi lặp lại suốt hành trình mười hai năm, từ lời rao trước giờ diễn đến lời nhắn cuối cùng trước ống kính truyền hình, trở thành điệp khúc xuyên suốt tác phẩm.
+ Một tiếng gọi không có hồi đáp nhưng người cha vẫn kiên trì gọi, tự thân nhan đề đã cô đọng trọn vẹn bi kịch và cũng là vẻ đẹp của nhân vật.
b2. Biểu hiện qua nhân vật ông Năm Nhỏ
- Nguyên do khiến gia đình tan vỡ chỉ là một chuyện nhỏ, con bé mười ba tuổi mê chơi làm mất đôi trâu, sợ đòn nên bỏ trốn. Nhưng oan nghiệt ở chỗ, người mẹ ruột lại đổ hết lỗi cho ông, tin rằng ông ngược đãi con riêng của chồng trước nên đứa trẻ mới bỏ đi, thề thốt cách mấy bà cũng không tin, người đời còn đồn ông giết con phi tang.
+ Chi tiết này cho thấy ông Năm Nhỏ vừa là người cha đau khổ vì mất con, vừa là nạn nhân của một mối nghi ngờ bất công ngay trong chính gia đình mình, khiến nỗi đau của ông có thêm một tầng oan khuất không dễ gọi tên.
- Suốt gần mười hai năm, ông theo đoàn hát rong, mượn micro rao tìm con trước mỗi giờ diễn, biến chính nỗi đau riêng thành một nghi lễ công khai, lặp đi lặp lại không mệt mỏi giữa những sân khấu tạm bợ.
+ Hành động ấy vừa kiên trì đến cảm động, vừa mang dáng dấp gần như phi lý, cho thấy tình thương đã vượt khỏi mọi giới hạn thông thường của lý trí.
- Đỉnh điểm là chi tiết ông cố ý đi bắt trộm hai con trâu ở lò mổ, để bị tóm và giải lên xã, chỉ với một tính toán duy nhất, được đài truyền hình quay lại để nói với con một câu: "Cải ơi, ba là Năm Nhỏ nè, nhà mình ở Cỏ Cháy đó, nhớ không? Về nhà đi con, tội má con vò võ có một mình. Con là trọng, chứ đôi trâu cộ nhằm nhò gì... Về nghen con, ơi Cải...".
+ Đây là chi tiết nghệ thuật đắt giá nhất truyện, một hành động phi lý đến mức nực cười, tự biến mình thành "tên trộm đãng trí" trên mặt báo, nhưng gánh trên nó cả mười hai năm thương nhớ và một nỗi khát khao được minh oan, được nói thành lời trước hàng vạn người.
+ Sự việc khép lại chua xót, nhiều người rơi nước mắt nên vụ trộm không được đưa tin, hoặc nếu có đưa tin thì ống kính cũng chỉ kịp quay cảnh ông "nhép miệng một cách tuyệt vọng", lời gọi con thiêng liêng nhất bị cắt khỏi sóng truyền hình, như câu văn khép truyện đã nói thẳng, nhà đài đâu phải chợ trời để ai muốn cũng có thể thoải mái gọi "Cải ơi!".
b3. Biểu hiện qua các nhân vật phụ, Thàn và Diễm Thương
- Thàn, chàng ca sĩ nghèo trong đoàn hát, và Diễm Thương, cô gái bị chính cha mẹ ruột bỏ rơi từ nhỏ, đều là những mảnh đời khuyết một mái ấm, cùng trôi dạt về ngã ba Sương như ông Năm Nhỏ.
+ Diễm Thương ngoài miệng bất cần, lạnh lùng, thậm chí từng đùa cợt khiến ông Năm tưởng lầm mình chính là Cải, nhưng ẩn sau đó vẫn là một khoảng trống gia đình y hệt nỗi đau ông đang mang.
- Sự đồng cảm giữa những phận người bên lề ấy mở rộng chủ đề của truyện, không chỉ là câu chuyện riêng của một gia đình mà là bức tranh chung về những con người cô đơn, lưu lạc, khao khát một chốn để gọi là nhà.
b4. Kết luận vấn đề
- Qua hành trình của ông Năm Nhỏ, Nguyễn Ngọc Tư gửi gắm một thông điệp giản dị mà thấm thía, tình thương chân thành có thể vượt qua mọi ranh giới, huyết thống, thời gian, định kiến, nhưng đồng thời cũng chỉ ra một sự thật nghiệt ngã, không phải lúc nào tiếng gọi yêu thương thật lòng nhất cũng được lắng nghe hay được trao cơ hội cất lên trọn vẹn.
3. Phân tích đặc sắc nghệ thuật trong việc thể hiện chủ đề
a. Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện
- Truyện không dựa trên một biến cố kịch tính duy nhất mà xây dựng trên mô hình hành trình kiếm tìm kéo dài, liên tục đặt nhân vật trước những cơ hội và hi vọng rồi lần lượt để chúng vỡ tan, từ đoàn hát rong đến trường quay, từ lầm tưởng Diễm Thương là con đến giấc mộng lên sóng truyền hình.
- Đỉnh điểm, tình huống ông cố tình phạm tội để được chú ý là một nghịch lý giàu sức gợi, biến nỗi đau thành một hành động vừa bi vừa hài, đặc trưng cho lối viết của Nguyễn Ngọc Tư.
b. Ngôi kể và điểm nhìn trần thuật
- Truyện kể theo ngôi thứ ba nhưng điểm nhìn bám rất sát vào bên trong ông Năm Nhỏ, để hiện tại (đoàn hát, trường quay, cuộc trộm trâu) và hồi ức (chuyện mất trâu, con bỏ nhà) liên tục đan cài vào nhau.
- Cách trần thuật này khiến quá khứ không bao giờ thực sự qua đi, nó cứ len vào từng khoảnh khắc hiện tại của nhân vật, đúng như cách một nỗi ám ảnh có thật vẫn tiếp tục sống trong một con người, đồng thời giúp người đọc thấu cảm trọn vẹn nội tâm dằn vặt của ông.
c. Kết thúc truyện với lối kể "nghe đâu" mơ hồ, không xác quyết
- Đoạn kết truyện đưa ra hai giả thuyết trái ngược, đều được dẫn bằng cụm từ "nghe đâu", một bên là vụ trộm không được lên sóng vì người ta thương cảm, một bên là có lên sóng nhưng lời nhắn của ông bị cắt mất, chỉ còn cảnh ông "nhép miệng một cách tuyệt vọng".
- Lối kết thúc mở, mang dáng dấp một câu chuyện truyền khẩu không có hồi kết chắc chắn này khiến dư âm xót xa của tác phẩm không dừng lại ở trang giấy cuối cùng, mà tiếp tục ám ảnh người đọc sau khi gấp sách.
d. Ngôn ngữ và giọng điệu đậm chất Nam Bộ
- Từ ngữ địa phương Nam Bộ xuất hiện dày đặc trong lời kể lẫn lời thoại nhân vật, "hổng", "tía", "nhỏ bồ", "sá gì", "nghen", khiến câu văn gần với lối kể miệng ngoài đời hơn là văn viết chải chuốt.
- Giọng văn vừa chân chất, hài hước, vừa thấm đẫm xót xa, tạo nên chất bi hài đặc trưng của Nguyễn Ngọc Tư khi viết về những phận người miền Tây, cười đó mà đau đó.
4. Đánh giá, nâng cao
- Liên hệ với truyện ngắn "Lão Hạc" của Nam Cao, cả hai đều viết về một người cha âm thầm chịu đựng, hi sinh vì con trong cô đơn tột cùng, không phô bày tình thương bằng lời ngọt ngào mà bằng hành động cụ thể, thậm chí kỳ quặc trong mắt người ngoài.
- Điểm khác biệt, Lão Hạc chọn cái chết câm lặng để giữ trọn mảnh vườn cho con, một sự hi sinh khép lại trong tuyệt vọng, còn ông Năm Nhỏ lại chọn một hành trình kiên trì gần mười hai năm, không bao giờ thôi hi vọng, thậm chí sẵn sàng biến mình thành trò cười, thành "tên trộm đãng trí" trên mặt báo, miễn tìm được một khe hở để gửi lời đến con. Đó là một sắc thái lạc quan, bền bỉ hiếm có giữa những trang viết cùng đề tài về tình phụ tử.
- Dù khác biệt về cách thức thể hiện, cả hai tác phẩm đều gặp nhau ở điểm sáng nhân đạo cốt lõi, tình cha con là một tình cảm thiêng liêng, có sức nặng đủ để một con người âm thầm gánh chịu mọi tổn thương, mọi tiếng cười chê, miễn là vì đứa con của mình.
III. KẾT BÀI
- Khẳng định lại giá trị chủ đề và nghệ thuật của "Cải ơi!", hô ứng nhận định đã dẫn ở phần mở bài.
- Nhận định của Nam Cao trong truyện ngắn "Giăng sáng": "Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than" là lời khẳng định xác đáng cho giá trị của tác phẩm.
- Liên hệ bản thân: bài học về sự lắng nghe, về việc đừng để một phút nóng giận hay một lời trách oan trở thành khoảng cách không thể lấp đầy giữa những người thân yêu.
C. BÀI GIẢNG CỦA GIÁO VIÊN
Có một chi tiết trong truyện ngắn "Cải ơi!" của Nguyễn Ngọc Tư khiến người đọc phải lặng đi, một ông già cố tình để bị bắt vì tội ăn trộm trâu, chỉ để được đứng trước ống kính truyền hình, nói một câu với đứa con gái đã bỏ nhà đi mười hai năm. Hành động ấy vừa phi lý đến nực cười, vừa gánh trên nó cả một đời thương nhớ không nguôi. Nguyễn Minh Châu từng nói, "Nhà văn tồn tại ở trên đời trước hết để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những con người bị cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn đến chân tường... để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực". Đọc "Cải ơi!", ta hiểu vì sao ngòi bút của Nguyễn Ngọc Tư, cây bút tiêu biểu của văn xuôi Nam Bộ đương đại, lại chọn cúi xuống với một ông già lam lũ, một đứa trẻ bỏ nhà, một cô gái bị cha mẹ bỏ rơi, những con người bé nhỏ nhất giữa cuộc đời.
Truyện được đặt trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, phần Thực hành đọc, ngay sau "Vợ nhặt" của Kim Lân và "Chí Phèo" của Nam Cao, như một cách nối dài mạch nhân đạo của văn xuôi Việt Nam từ nông thôn Bắc Bộ những năm 1940 đến tận sông nước Nam Bộ hôm nay. Truyện kể về ông Năm Nhỏ, cha dượng của Cải. Năm Cải mười ba tuổi, con bé mê chơi làm mất đôi trâu, sợ đòn mà trốn nhà, rồi biệt tích. Nhưng bi kịch không dừng ở đó. Người mẹ ruột lại quay sang nghi ngờ chính ông, tin rằng ông đã ngược đãi con riêng của chồng trước nên đứa trẻ mới bỏ đi. Ông thề thốt cách mấy bà cũng không tin, người đời còn đồn ông đã giết con rồi phi tang. Mang cả nỗi đau mất con lẫn nỗi oan không cách nào gột rửa, ông bỏ xứ ra đi, bắt đầu một hành trình gần mười hai năm.
Chủ đề của tác phẩm, trước hết, lộ ra ngay từ nhan đề "Cải ơi!". Đây không phải một mệnh đề trần thuật mà là một tiếng gọi, được lặp đi lặp lại suốt hành trình, từ lời rao trước mỗi giờ diễn khi ông theo đoàn hát rong, đến câu nói cuối cùng trước ống kính truyền hình. Một tiếng gọi không có hồi đáp, nhưng người cha vẫn kiên trì gọi. Càng đi sâu vào nhân vật ông Năm Nhỏ, ta càng thấy rõ, tình thương của ông đã vượt khỏi mọi giới hạn của lý trí thông thường. Suốt gần mười hai năm, ông biến nỗi đau riêng thành một nghi lễ công khai lặp lại không mệt mỏi giữa những sân khấu tạm bợ. Và đỉnh điểm, khi biết đài truyền hình có mục nhắn tìm người thân nhưng ông mãi không có cơ hội, ông đã nghĩ ra một cách không ai ngờ tới, cố ý đi bắt trộm hai con trâu ở lò mổ để bị tóm, để được giải lên xã, chỉ với một tính toán duy nhất, được ống kính quay lại để nói với con một câu, "Cải ơi, ba là Năm Nhỏ nè, nhà mình ở Cỏ Cháy đó, nhớ không? Về nhà đi con, tội má con vò võ có một mình. Con là trọng, chứ đôi trâu cộ nhằm nhò gì... Về nghen con, ơi Cải...".
Đây là chi tiết nghệ thuật đắt giá nhất truyện. Một hành động phi lý đến mức nực cười, tự biến mình thành "tên trộm đãng trí" trên mặt báo, nhưng lại gánh trên nó cả mười hai năm thương nhớ và khát khao được minh oan, được nói thành lời trước hàng vạn người. Sự việc khép lại càng chua xót hơn. Truyện kết bằng hai giả thuyết trái ngược, đều được dẫn bằng cụm từ "nghe đâu", một bên nói vụ trộm không được lên sóng vì người ta thương cảm, một bên nói có lên sóng nhưng ống kính chỉ kịp quay cảnh ông "nhép miệng một cách tuyệt vọng", lời gọi con thiêng liêng nhất bị cắt mất, đúng như câu văn khép truyện đã nói thẳng, nhà đài đâu phải chợ trời để ai muốn cũng có thể thoải mái gọi "Cải ơi!". Xung quanh ông Năm Nhỏ còn có Thàn, chàng ca sĩ nghèo, và Diễm Thương, cô gái bị chính cha mẹ ruột bỏ rơi, hai mảnh đời khuyết một mái ấm y hệt ông, mở rộng chủ đề của truyện ra thành bức tranh chung về những phận người cô đơn, lưu lạc.
Sức nặng của chủ đề ấy được nâng đỡ bởi một lối viết rất riêng. Trước hết là cách xây dựng tình huống, truyện không dựa vào một biến cố kịch tính duy nhất mà đặt nhân vật vào một hành trình kiếm tìm kéo dài, liên tục trao cho ông những cơ hội rồi lần lượt để chúng vỡ tan, cho đến đỉnh điểm là nghịch lý phạm tội để được chú ý. Thứ hai, truyện kể theo ngôi thứ ba nhưng điểm nhìn bám rất sát vào bên trong ông Năm Nhỏ, để hiện tại và hồi ức liên tục đan cài, khiến quá khứ không bao giờ thực sự qua đi mà cứ len vào từng khoảnh khắc hiện tại, như một nỗi ám ảnh có thật vẫn tiếp tục sống trong một con người. Thứ ba, lối kết thúc mở với hai giả thuyết "nghe đâu" mang dáng dấp một câu chuyện truyền khẩu, khiến dư âm xót xa không dừng lại ở trang cuối mà tiếp tục ám ảnh người đọc. Và bao trùm tất cả là chất giọng Nam Bộ đậm đặc trong từng câu chữ, "hổng", "tía", "sá gì", "nghen", vừa chân chất vừa xót xa, tạo nên nét bi hài rất riêng của Nguyễn Ngọc Tư, cười đó mà đau đó.
Đặt "Cải ơi!" bên cạnh "Lão Hạc" của Nam Cao, ta thấy cả hai đều viết về một người cha âm thầm hi sinh vì con trong cô đơn tột cùng, không phô bày tình thương bằng lời ngọt ngào mà bằng hành động cụ thể, có phần kỳ quặc trong mắt người ngoài. Nhưng nếu Lão Hạc chọn cái chết câm lặng để giữ trọn mảnh vườn cho con, một sự hi sinh khép lại trong tuyệt vọng, thì ông Năm Nhỏ lại chọn một hành trình kiên trì gần mười hai năm, không bao giờ thôi hi vọng, sẵn sàng biến mình thành trò cười miễn tìm được một khe hở để gửi lời đến con. Đó là một sắc thái lạc quan, bền bỉ hiếm có giữa những trang viết cùng đề tài. Nam Cao từng viết trong "Giăng sáng", "Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than". "Cải ơi!" chính là một tiếng đau khổ như thế, cất lên bằng giọng văn Nam Bộ chân chất, để lại trong lòng người đọc một câu hỏi khó quên, tiếng gọi thương yêu thật lòng nhất của một người, có luôn được ai đó lắng nghe hay không.
D. BÀI VIẾT CHO HỌC SINH
Vì sao một ông già lại cố tình để mình bị bắt vì tội ăn trộm trâu? Câu hỏi ấy dẫn ta vào truyện ngắn "Cải ơi!" của Nguyễn Ngọc Tư, tác phẩm khắc họa một hành trình gần mười hai năm đi tìm con của người cha dượng, qua đó khẳng định tình phụ tử thiêng liêng có thể vượt lên trên mọi ranh giới máu mủ.
Truyện kể về ông Năm Nhỏ. Năm Cải, con riêng của vợ, mười ba tuổi, con bé mê chơi làm mất đôi trâu, sợ đòn mà bỏ trốn, rồi biệt tích. Người mẹ ruột quay sang nghi ngờ chính ông đã ngược đãi con riêng của chồng trước nên đứa trẻ mới bỏ đi, thề thốt cách mấy bà cũng không tin, người đời còn đồn ông đã giết con phi tang. Mang cả nỗi đau mất con lẫn nỗi oan không cách nào gột rửa, ông bỏ xứ ra đi, theo một đoàn hát rong, trước mỗi giờ diễn lại mượn micro rao tìm con suốt gần mười hai năm.
Trước hết, chủ đề của tác phẩm lộ rõ ngay từ nhan đề "Cải ơi!", một tiếng gọi tha thiết được lặp lại xuyên suốt truyện, không có hồi đáp nhưng người cha vẫn kiên trì gọi. Tình thương của ông Năm Nhỏ vượt khỏi mọi giới hạn thông thường, đỉnh điểm là chi tiết ông cố ý đi bắt trộm hai con trâu để bị tóm, để được giải lên xã, chỉ mong ống kính truyền hình quay lại, cho ông nói một câu với con, "Cải ơi, ba là Năm Nhỏ nè, nhà mình ở Cỏ Cháy đó, nhớ không? Về nhà đi con, tội má con vò võ có một mình. Con là trọng, chứ đôi trâu cộ nhằm nhò gì...". Một hành động phi lý đến nực cười nhưng gánh trên nó cả mười hai năm thương nhớ.
Nhưng chính ở đoạn kết, chiều sâu chua xót của chủ đề mới thực sự bộc lộ. Truyện khép lại bằng hai giả thuyết trái ngược, đều được dẫn bằng cụm từ "nghe đâu", một bên nói vụ trộm không được lên sóng vì người ta thương cảm, một bên nói có lên sóng nhưng chỉ quay được cảnh ông "nhép miệng một cách tuyệt vọng", lời gọi con thiêng liêng nhất bị cắt mất khỏi truyền hình. Câu văn khép truyện nói thẳng, nhà đài đâu phải chợ trời để ai muốn cũng có thể thoải mái gọi "Cải ơi!". Chi tiết ấy khiến người đọc nhận ra, không phải lúc nào tiếng gọi yêu thương thật lòng nhất cũng được trao cơ hội cất lên trọn vẹn.
Về nghệ thuật, truyện xây dựng một tình huống hành trình kiếm tìm kéo dài, liên tục đặt nhân vật trước những hi vọng rồi để chúng vỡ tan, đỉnh điểm là nghịch lý phạm tội để được chú ý. Ngôi kể thứ ba nhưng điểm nhìn bám sát bên trong ông Năm Nhỏ khiến hiện tại và hồi ức liên tục đan cài, cho thấy quá khứ chưa bao giờ thực sự qua đi trong tâm trí nhân vật. Lối kết thúc mở với hai giả thuyết "nghe đâu" mang dáng dấp một câu chuyện truyền khẩu, để lại dư âm ám ảnh sau khi gấp trang sách cuối. Và bao trùm tất cả là chất giọng Nam Bộ đậm đặc, "hổng", "tía", "sá gì", tạo nên nét bi hài rất riêng của Nguyễn Ngọc Tư.
Đặt "Cải ơi!" bên cạnh "Lão Hạc" của Nam Cao, ta thấy cả hai đều viết về một người cha âm thầm hi sinh vì con trong cô đơn. Nhưng nếu Lão Hạc chọn cái chết câm lặng để giữ mảnh vườn cho con, thì ông Năm Nhỏ lại chọn một hành trình kiên trì không bao giờ thôi hi vọng, sẵn sàng biến mình thành trò cười miễn tìm được cách gửi lời đến con, một sắc thái lạc quan hiếm có giữa những trang viết cùng đề tài.
Gấp lại "Cải ơi!", điều đọng lại không chỉ là một câu chuyện cảm động, mà còn là một câu hỏi day dứt về sự lắng nghe. Nguyễn Ngọc Tư đã dùng giọng văn Nam Bộ chân chất để nhắc mỗi người đọc, đừng để một phút nóng giận hay một lời trách oan trở thành khoảng cách không thể lấp đầy giữa những người thân yêu.