Hồ Hoàng Gia
01/04/2026 - 21:25
Chúng ta sinh ra và lớn lên với sự vận hành của ý thức khao khát hiểu về mình và về cuộc đời. Chúng ta men theo từng câu chuyện cổ để hiểu về thời trước, dùng trải nghiệm để hiểu về ngày nay và luôn trong tâm thế sẵn sàng để hiểu về ngày sau. Hiểu về mình, về đời không chỉ ở bề ngoài, mà còn hòa quyện cùng những giá trị bên trong. Chúng ta có thể phụ thuộc vào khoa học-công nghệ làm phương tiện tìm hiểu nhưng chỉ thật sự khám phá được cái cốt lõi tinh thần khi dấn thân vào một lĩnh vực tinh thần, theo tôi nghĩ, đó chính là văn học. Như chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã phát biểu trong buổi trao giải tại Hội nhà văn Hà Nội:
"Ở bất cứ thời đại nào và ở bất cứ quốc gia nào, một câu hỏi lớn luôn được đặt ra là: Một đứa trẻ lớn lên sẽ thành một con người như thế nào nếu trong tâm hồn chúng không tràn ngập những vẻ đẹp văn hóa dân tộc, tràn ngập tình yêu con người, tình yêu thiên nhiên và những giấc mơ trong trẻo. Những thành tựu của khoa học công nghệ đã và đang làm cho thế giới văn minh hơn, giúp con người sản xuất ra nhiều của cải vật chất hơn và mang lại cho con người nhiều tiện ích hơn trong cuộc sống. Nhưng chính những tác phẩm văn học nghệ thuật làm cho con người sống một đời sống có nhân phẩm, nhân văn và tâm hồn phong phú."
Ta có thể ví văn hóa và văn học luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nếu văn hóa là một con sông thì chắc hẳn văn học chính là nguồn phù sa vô cùng phong phú bồi tụ nên dòng sông ấy. Là một công dân, một con người thực, bất cứ ai cũng phải hòa mình cùng dòng sông văn hóa, để cảm nhận cái nguồn cội, cảm nhận sự chuyển động của trong lòng đất nước, cảm nhận sự kết nối của chính mình với dân tộc. Những thànhtựu của khoa học công nghệ có thể đưa ta nhìn ngắm thành tựu của những nền văn hóa, là những chiếc thuyền giúp ta băng qua bao đại dương nhưng không bao giờ cho ta ướt sũng. Đúng hơn, “khoa học công nghệ đã và đang làm cho thế giới văn minh hơn, giúp con người sản xuất ra nhiều của cải vật chất hơn và mang lại cho con người nhiều tiện ích hơn”. Không ai có thể phủ nhận giá trị của khoa học công nghệ nhưng chỉ có thể công nhận nó trên phương diện giá trị vật chất. Nhưng bản chất của con người, làm sao có thể sống đúng nghĩa khi sung túc về vật chất nhưng tinh thần thì trống rỗng? Giá trị của văn học - một hình thái ý thức xã hội có chức năng kết tinh những giá trị tinh thần của con người. Dòng chảy văn học đưa con người đến với dòng chảy văn hóa, “làm cho con người sống một đời sống có nhân phẩm, nhân văn và tâm hồn phong phú”, để rồi trong tâm hồn nó luôn “tràn ngập những vẻ đẹp văn hóa dân tộc, tràn ngập tình yêu con người, tình yêu thiên nhiên và những giấc mơ trong trẻo”. Hiểu về văn hóa là hiểu về chính mình, con đường văn học không chỉ khiến ta ý thức được rằng mình là một con người, mà còn để ta hiểu rằng, chính ta là một con người “có-nguồn-cội”.
Sống với những vẻ đẹp văn hóa dân tộc, ngập tràn tình yêu con người, tình yêu thiên nhiên và những giấc mơ trong trẻo tác động vô cùng lớn đến cuộc sống của mỗi chúng ta. Con người khác loài vật ở chỗ biết nhận thức về những sự biến đổi của cuộc sống xung quanh, lịch sử của loài người là lịch sử của sự phát triển và tiến hóa không ngừng, khai minh, cải thiện chất lượng cuộc sống. Vì thế, hiểu về những gì đã qua là tìm về nguồn gốc vĩ đại, nhận thức đạo đức, tinh thần về giá trị và tiềm năng bản chất của con người. Văn hóa góp phần quan trọng trong giáo dục, xây đắp lý tưởng sống, đạo đức và nhân cách con người; nói rộng ra, văn hóa là sức mạnh nội sinh, là nền tảng tinh thần xã hội. Văn hóa tạo ra con người, nhưng chính con người bằng nhận thức và hoạt động cụ thể đã làm giàu thêm nội dung và bản sắc nền văn hóa. Mỗi nền văn hóa đại diện cho một cộng đồng, dân tộc cụ thể, chỉ khi những thành viên trong cộng đồng ấy hiểu rõ về nền văn hóa của nơi mình thuộc về, chỉ khi ấy, cá nhân và cộng đồng mới có thể hoàn thiện và ngày càng sống tốt đẹp hơn.
Điều gì sẽ giúp con người hiểu hơn về nền văn hóa mình thuộc về? Khi người ta đang sống trong một xã hội nhanh (fast social), một cộng đồng vội vã (hustle culture), người ta mải miết cắm đầu về phía trước, về một tương lai với những phát minh đầy tiến bộ, những sản phẩm công nghệ hàng đầu sẽ khiến cuộc sống trở nên tiện ích hơn, phát triển hơn. Nhưng tiện ích hơn chưa chắc đã tốt đẹp hơn, nếu chỉ thỏa mãn về vật chất mà thiếu đi những nền tảng tinh thần thì chưa hẳn đã trọn vẹn. Thành tựu khoa học công nghệ thuộc về văn minh, chưa phải là văn hóa. Văn hóa nằm trong đời sống tinh thần và chỉ có thể tác động mạnh mẽ nhất thông qua những lĩnh vực tinh thần. Văn học là một trong những vùng đất có khả năng lưu trữ và bảo tồn những giá trị tinh thần vô hạn, làm con người có đời sống tinh thần nhân văn, nhân phẩm và tâm hồn phong phú hơn.
Văn học là một hình thái ý thức xã hội có chức năng kết tinh giá trị văn hóa tinh thần của con người. Xét theo nghĩa hẹp của văn hóa là sự kết tinh tư tưởng và giá trị thì văn học gần với triết học, là những hình thái ý thức xã hội thể hiện tư tưởng, lí tưởng, sự quan tâm đến giá trị tối cao của con người. Văn hóa không thể hiện đời sống sống dưới hình thức hình tượng cụ thể, cảm tính, sinh động. Giá trị văn hóa của văn học thể hiện trong cả quá trình tồn tại của nó. Nhìn từ lịch trình cũng như quỹ đạo phát triển của văn hóa nhân loại, bản chất của văn học là sự đi tìm các tư tưởng và giá trị, chưa bao giờ khư khư ôm lấy một thước đo nhàm chán nào. Văn hóa chính là chất liệu để văn học sáng tạo nên thế giới nghệ thuật của mình, là “sân khấu” để văn học có thể thể hiện nổi bật các giá trị của mình, đồng thời văn hóa cũng là “chìa khoá” để “giải mã” các “ẩn số” nghệ thuật. Mặt khác, văn học lại phản ánh văn hoá, tái tạo mô hình văn hoá qua thế giới nghệ thuật, và chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò của văn học trong việc định hướng cho sự phát triển văn hoá. Tìm đến văn học là tìm đến một con đường để hiểu về văn hóa của chính mình, về vẻ đẹp dân tộc, để rồi tràn ngập một tình yêu con người, một tình yêu thiên nhiên cùng những giấc mơ trong trẻo. Một đời sống tinh thần ngập tràn sức sống, ngập tràn lòng yêu và thương thì dù hạn chế về những giá trị vật chất, người ta vẫn còn những niềm tin ở thế giới tinh thần để tiếp tục sống và sống.
Có người cho rằng, chúng ta có thể tìm thấy văn hoá qua sử sách, thậm chí còn rõ hơn văn học. Chúng ta có thể biết người xưa ăn gì, mặc gì, sinh hoạt ra sao một cách cụ thể. Đó là điều không cần bàn cãi nhưng đó cũng chỉ là một phần, bởi khái niệm văn hoá có nội hàm rất rộng. Sử học có thể tái hiện được những giá trị văn hóa cụ thể nhưng còn những giá trị phi vật chất. Đó là điều khó có thể đựng lại được nếu chỉ qua một mảnh gốm, một lưỡi cày hay lưỡi cuốc. Tinh thần yêu nước, tư tưởng nhân đạo là những truyền thống văn hoá quý giá mà chỉ có thể thấy được rõ nhất qua hình tượng nghệ thuật văn học. Đó là khả năng phản ánh tuyệt vời của văn học mà nếu chỉ miêu tả bằng ngôn ngữ thông thường khó có thể thuyết phục được. Mặt khác, có những yếu tố văn hoá từ lâu đã không còn nữa, thời gian đã xoá nhoà nó đi mà sử học cũng không sao tạo dựng lại được, và lúc đó họ phải tìm đến các tác phẩm văn thơ. Đó không phải là điều ngẫu nhiên bởi từng có thời kỳ văn sử bất phân. Nhờ các sáng tác đó mà các “ẩn số” lịch sử văn hoá được giải mã.
Không phải ngẫu nhiên khi suy niệm về tình yêu quê hương, Lacordaire đã xác quyết: “Phát xuất từ chủng tộc và quốc gia tính, lòng yêu quê hương nảy sinh trong lòng người. Nó là tâm tình sâu thẳm được nuôi dưỡng bằng lịch sử của quá khứ và kỷ niệm của cuộc sống cá nhân. Nơi đó tập trung hết những gì ta đã thấy, đã làm, đã sống từ những ngày lánh cửa ấu thơ đến những xao động của thời lão thành và đến những viên tượng của mồ mả chúng ta”. Quả thật, tình yêu quê hương là một tình cảm đặc biệt trong trái tim mỗi người. Quê hương, vì thế, bao giờ cũng là nơi lưu giữ những gì thiêng liêng nhất trong tâm thức con người. Điều này, ta có thể tìm thấy ở tâm thức văn hóa lãng xã trong thơ Tế Hanh mà biểu hiện của tâm thức văn hóa ấy là tình yêu tha thiết đối với làng quê mà thi nhân rất tự hào:
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới:
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông
(...)
Cánh buồm trương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...
(“Quê hương” – Tế Hanh)
Cánh buồm đâu chỉ được chú ý về kích cỡ hiện hữu mà hơn thế, là tầm vóc to lớn không thể nhìn bằng mắt, mà chỉ có thể dùng trái tim, tâm hồn, nội quan để cảm nhận. Quê hương hiện lên trong thơ Tế Hanh bằng những hình ảnh chân mộc, hồn nhiên, không hề có một chút “tô vẽ phấn son”. Sự chân mộc ấy, được kết tinh từ cuộc sống những người nông dân ở “làng chài lưới” quê ông.
Trong số muôn nẻo đường đi đó, hẳn luôn có đường về cội nguồn và đường về của kí ức. Văn hóa trong văn học không hẳn là sự kể lại, sao chép lại văn hóa thực mà là đi sâu vào văn hóa thực để phổ quát nên những giá trị, bí ẩn nằm sâu trong tầng văn. Sau nữa, nền văn hóa là những gì còn đọng lại trong chiều sâu tâm trí con người sau khi thời gian đã sàng lọc tất cả thì cái hình ảnh hiện hiện ngày một lắng sâu của diện mạo, bản sắc văn hóa Việt Nam lại được hiện hình rõ nét qua văn học. Không phải ngẫu nhiên mà tìm hiểu về văn hóa Việt Nam nhiều người lại tìm về văn học Việt Nam. Nói cách khác, văn học là phương tiện trực tiếp lộ vỏ của tư duy và tầng sâu của cảm xúc trong hệ thống tinh thần và đời sống văn hóa dân tộc. Và như vậy, nhờ có tiếng nói của văn chương mà con người ta như được chạm đến, dù chỉ là rất khẽ, rất mơ hồ cái thế giới tưởng chừng như mình đã bỏ quên trong quá khứ, hoài vọng. Văn chương không chỉ đưa con người vào một thế giới mới khác hẳn thực tại, văn chương còn cần thiết khơi dậy trong chúng ta sự trở về.
Hiểu về văn hóa suy cho cùng là để hiểu một vùng đất, với những con người, những khát khao, ước mơ và hi vọng. Văn học kết tinh giá trị văn hóa - chúng ta biết rằng, giá trị (value) là “cốt lõi” của văn hóa, là “thước đo” nhân bản của xã hội loài người. Nói như Ngô Đức Thịnh, giá trị là “những đánh giá mang tính chủ quan của con người về tự nhiên, xã hội và tư duy theo những gì là cần, là tốt, là hay, là đẹp. Nói cách khác, đó chính là những cái được con người cho là Chân - Thiện - Mỹ, giúp khẳng định và nâng cao bản chất con người”. Trong bộ phim Dead Poets Social, nhân vật người thầy đã nói với học trò của mình: “Chúng ta đọc và làm thơ không phải vì chúng dễ thương, chúng ta đọc và làm thơ vì chúng ta là con người, mà con người thì luôn ngập tràn những đam mê”. Văn học là nhân học, do đó văn học còn hun đúc tạo nên giá trị văn hóa hàng đầu khác: đó là phẩm giá con người. Đây chính là phương tiện khẳng định tác dụng chiều sâu của văn học trong quá trình xây dựng, phát triển nhân cách văn hóa. Văn học có tác dụng to lớn và sâu sắc giúp con người hiểu được người khác và hiểu được chính mình. Nếu như khoa học khái quát hóa nhận thức về tự nhiên, xã hội, về con người... thì văn học có thể cắt nghĩa những lí lẽ riêng của trái tim mà khoa học khó nắm bắt. Đời sống tâm hồn và tâm lý con người ngày càng trở nên phức tạp và nghệ thuật mới có thể soi thấu để chuẩn bị cho sự tự ý thức. Có những tác phẩm đọc xong ta thấy bàng hoàng vì nó giúp ta nhận ra chính mình. Văn học có khả năng tác động tới sự tự ý thức của con người, cả về những mặt mạnh, mặt yếu, những tiềm lực lớn lao nhiều khi không ngờ tới, qua đó giúp con người hoàn thiện và phát triển chính mình. Văn học đã tạo ra những cuộc hành trình bên trong có ý nghĩa quyết định với sự cải tạo, hoàn thiện, phát triển bản thân. Nói cách khác nó có vai trò quan trọng để phát triển nhân cách văn hóa.
Hiểu về con người là phương tiện để hiểu về văn hóa. Hiểu về con người để rồi trong lòng dấy lên những cảm xúc lạ thường, bình dị nhưng chân thành và thân thương lắm. Nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao khá tiêu biểu cho kiểu con người duy tình của làng xã Việt Nam. Một tình yêu quê hương, đất nước, yêu làng xóm, vừa bắt gặp lối sống thiếu lý trí, hành xử theo cảm tính một cách bừa bãi. Các nhân vật của Nam Cao trong cái cùng khốn, nghèo đói, tưởng như mất hết nhân tính vẫn tồn tại những tình cảm yêu thương rất đáng trân trọng. Khi Chí Phèo về làng, hắn đã trở thành một “con ác quỷ”, thành nỗi khiếp sợ của dân làng Vũ Đại. Thế nhưng, chỉ cần một Thị Nở cùng đôi bát cháo hành và một chút tình thương của Thị Nở “đánh thức”, được hoàn lương. Chúng ta giả sử như Chí Phèo không phải là người làng quê, không có lối sống duy tình ẩn sâu vào tiềm thức mà chỉ có sự lạnh lùng, sắt đá của lý tính thì hắn sẽ tàn bạo ra sao? Ai có thể kéo hắn khỏi ranh giới tội lỗi? Con người duy tình trong Chí thêm khát sự yêu thương, thèm khát mối quan hệ cộng đồng như hắn đã từng thèm khát “có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Sự thức tỉnh của Chí không phải chỉ do Thị Nở mà còn do chính sự vận động nội tại của hắn. Đó là sự thức tỉnh của những tình cảm đã bị lãng quên, là sự thức tỉnh của con người duy tình có gốc gác làng xã: “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hoà với mọi người biết bao!”. Đó chính là ước mơ đầy nhân văn trong hoàn cảnh xã hội đương thời mà nhà văn muốn thể hiện qua con người duy tình làng xã, thứ tình cảm tưởng chừng không thể tồn tại trong thân xác quái gỡ của Chí Phèo.
Trong đời sống tinh thần của người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng, thiên nhiên giữ một vai trò vô cùng quan trọng. Triết học phương Đông đã xác định, trong bộ ba Thiên - Địa - Nhân, con người là một bộ phận hữu cơ của thế giới, là đầu nối của trời và đất. Hòa chung vào ngôi nhà chung của thiên nhiên vũ trụ, con người được sống bằng bản ngã đích thực của mình. Thiên nhiên nào cũng vậy, vẫn là gió, mưa, nắng, gió, trăng, hàng cây, góc phố, con đường… nhưng thiên nhiên đậm chất văn hóa là bởi con người đã văn hóa hóa thiên nhiên. Tiếp cận văn xuôi Thạch Lam dưới góc nhìn văn hóa, phát hiện ra Thạch Lam đã văn hóa hóa thiên nhiên qua ngòi bút của mình. Thạch Lam đã khắc họa vẻ đẹp thiên nhiên trong sự hòa quyện với con người trong sự tồn tại hiện hữu theo quy luật tự nhiên của nó. Trong Cô hàng xén, Tâm lại bước đi trên con đường quen thuộc đầy sương mù và gió lạnh “Cái vòng đen của rặng tre làm giằng bỗng vụt hiện lên trước mắt, tối tăm và dày đặc”. Thiên nhiên của những ngõ nhỏ, phố nhỏ, của hương cốm làng Vòng… tất cả đã để lại một ấn tượng đặc biệt trong lòng của người đọc. Thiên nhiên trong những trang văn của Thạch Lam mang cái dư âm của không gian địa văn hóa. Cho nên, cỏ cây, hoa lá, núi sông, đất trời ở mỗi vùng khác nhau nhưng cũng đều là vẻ đẹp của quê hương xứ sở của đất nước Việt Nam? Song ta vẫn thấy con tim yêu của tác giả nghiêng về Cẩm Giàng. Có lẽ đó nên hầu hết tác phẩm của ông ta đều thấy hình ảnh quê hương của một vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ. Có thể nói, cái đẹp trong tác phẩm Thạch Lam là cái đẹp trinh nguyên của thiên nhiên, của bầu không khí bao quanh nhân vật - cái bầu không khí đặc biệt mà thiếu nó con người có nguy cơ trở nên nhạt nhẽo, vô vị. Một bức tranh thiên nhiên giàu chất thơ êm ả, đượm buồn, thấm đẫm cảm xúc trìu mến, nâng niu mà nhà văn luôn nặng tình với những gì là biểu hiện linh hồn nông thôn Việt Nam, hồn xưa dân tộc. Đó là dưỡng khí tinh thần của con người mà Thạch Lam đã “chắt chiu cái đẹp” (Bùi Việt Thắng) cho đương thời và hậu thế.
Hơn nữa, nếu văn hóa là toàn bộ những gì do con người tạo ra thì văn hóa cũng chính là thước đo của trình độ phát triển. Văn học đã mang trong mình một năng lực đặc biệt - năng lực sáng tạo văn hóa. Văn học sáng tạo văn hóa, không phải vì văn học có khả năng lưu trữ những dữ liệu văn hóa của đời sống. Cao hơn, văn học góp phần quan trọng trong việc tạo nên giá trị văn hóa mà nói lên hàng đầu là những giá trị nghệ thuật trong ngôn ngữ dân tộc và những giá trị nhân văn trong phẩm chất con người. Văn học xét theo một góc độ nhất định là nghệ thuật ngôn ngữ, mà ngôn ngữ lại là sản phẩm của một tiến trình văn hóa lâu dài của xã hội loài người, vừa là công cụ của sự phát triển văn hóa, vừa là một giá trị văn hóa hàng đầu. Văn hóa càng vươn lên trình độ cao thì ngôn ngữ càng trở nên phong phú, tinh tế hơn. Do đó, văn học đã phát triển diện mạo của văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ. Trong sự cạnh tranh quyết liệt của các phương tiện nghe, nhìn hiện đại, quỹ thời gian của con người rất eo hẹp song văn học vẫn có chân trời riêng của nghệ thuật ngôn từ. Nói như GS Trần Đình Sử “ngôn từ là phương tiện giao tiếp không gì cạnh tranh được”. Bản thân nghệ thuật ngôn từ đổi mới và phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của văn hóa, tạo điều kiện cho văn học phát triển là bước đột phá cho sự phát triển của đời sống văn hóa.
Văn học tái tạo văn hóa, phản ánh mô hình văn hóa, định hướng cho văn hóa phát triển. Nhưng làm sao văn học thực hiện được sứ mệnh thiêng liêng đó nếu nhà văn thoát thai khỏi văn hóa mà họ đang thuộc về. Nhiệm vụ của nhà văn, giờ đây phụ thuộc vào tài năng chưa đủ, mà còn phải thể hiện màu sắc văn hóa. Tức nghĩa nhà văn không chỉ là người sáng tạo mà còn là một nhà - văn - hóa. Muốn làm cho người đời “sống một đời sống có nhân phẩm, nhân văn và tâm hồn phong phú” trước hết anh cũng phải có một đời sống nhân phẩm, nhân văn và tâm hồn phong phú. Tôi nhớ câu chuyện của nhà văn Nga đầu tiên được giải thưởng Nobel về văn chương đã có một truyện ngắn đặc sắc viết về chàng thủy thủ Becna trên con thuyền Môpatxăng. Becna là một thủy thủ tuyệt vời, trước lúc qua đời đã nói: “Hình như tôi đã là một thủy thủ không đến nỗi tồi”. Và I.Bunin đã tự viết về mình rằng, ông sẽ thật sự là người hạnh phúc nếu từ lúc giã từ cuộc đời có quyền nhắc lại câu nói của Becna: “Mình đã là nhà văn không đến nỗi tồi”. Thật nhiều ý nghĩa thâm trầm trong ý nguyện cuối đời tưởng chừng như bình dị ấy. Sự thành đạt trong văn chương thật khó làm sao. Pautopxki luôn ý thức việc chưa bao giờ thỏa mãn hay hài lòng về bản thân. Như thế nào mới là một nhà văn không đến nỗi tồi? Theo tôi nghĩ, anh ta phải ý thức được việc viết văn không dành cho riêng ai, anh ta phải viết vì đời và đem cho đời một giá trị bền vững, viết văn không để người đọc chỉ ý thức về mình mà còn phải cảm nhận được cấu trúc rộng lớn mà cá nhân thuộc về. Đi trọn con đường nghệ thuật, như Hoàng Cầm đã nói “Ton art purifie ton âme - nghệ thuật đã cứu rỗi hồn tôi, và sẽ giúp tôi đi trọn con đường mình đã chọn, con đường tình: tình nước - tình người”. Đúng, tình nước, tình người, những tình cảm sẽ khiến con người ta sống nhân phẩm, nhân văn và phong phú hơn. Thứ tình cảm ấy đã nằm trọn trong văn hóa, thông qua văn học mà đến với cuộc đời.
Lời phát biểu của chủ tịch nước không chỉ nhấn mạnh tầm quan trọng của văn học trong dòng chảy văn hóa, yếu tố văn hóa trong văn học mà còn khẳng định giá trị văn học giữa không gian đô thị không ngừng phát triển. Và một đứa trẻ lớn lên sẽ thành một con người như thế nào nếu trong tâm hồn chúng không tràn ngập những vẻ đẹp văn hóa dân tộc, tràn ngập tình yêu con người, tình yêu thiên nhiên và những giấc mơ trong trẻo? Sẽ ra sao khi trẻ em chỉ lớn lên trong những tiếng ồn đô thị, trốn mình trong căn phòng máy lạnh lướt kênh Tik Tok thịnh hành? Đặc biệt trong thời đại dịch bệnh, khi trẻ em chưa được tiêm Vacxin và phải thực hiện cách li xã hội, nguy cơ trầm cảm và tự kỉ lại tăng cao hơn bao giờ hết. Và rồi trẻ em sẽ thành người lớn, thành người lớn - không hẳn là người - trưởng- thành, nhìn lại tuổi thơ của mình, còn gì đâu ngoài trống rỗng, nhàm chán và bế tắc? Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không tự nhận mình là nhà văn, nhà thơ, mà chỉ xem mình như là người bạn của văn nghệ. Trong bài thơ Khai Quyển mở đầu cuốn Nhật ký trong tù, Bác tự bạch: “Ngâm thơ ta vốn không ham”. Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác không chỉ dành hết cho sự nghiệp cách mạng, cho Tổ quốc, cho nhân dân mà còn dành sự quan tâm và tình yêu thương vô hạn với các cháu thiếu niên nhi đồng, không chỉ qua những cuộc tiếp xúc, gặp gỡ, thăm hỏi mà những tâm tư, tình cảm, mong mỏi của Bác còn thể hiện qua những bài thơ Bác sáng tác dành tặng cho các cháu.
“Bác mong các cháu “cho ngoan”
Mai sau gìn giữ giang san Lạc- Hồng
Sao cho nổi tiếng Tiên- Rồng
Sao cho tỏ mặt nhi đồng Việt Nam”
Tìm mình qua thế giới văn học, đây là một thế giới không tệ để trẻ em có thể bắt gặp những “vẻ đẹp văn hóa dân tộc, tràn ngập tình yêu con người, tình yêu thiên nhiên và những giấc mơ trong trẻo”, để rồi thêm yêu cuộc sống, thắp lên khát vọng xây dựng đời xanh. Như nhiều thế hệ thiếu niên, nhi đồng Việt Nam đã lớn lên trong những dòng thơ của Bác, được trưởng thành hơn, sống có nhân cách, hoài bão và lý tưởng, vun đắp và cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, sự phát triển của đất nước ta.
Văn hóa không đồng nhất với khái niệm đất nước. Trong văn học, những nền văn hóa của dân tộc thiểu số vẫn mang trong mình một màu sắc riêng. Với tôi, văn học là cái gì đó thật phiêu lưu, và với một nền văn học của dân tộc thiểu số, đó là những trải nghiệm đặc biệt ấn tượng. Y Phương tra ơn bằng cách góp phần bảo tồn văn hóa và chữ viết. Y Phương từng tâm sự: “Riêng tôi, tôi tự phải có trách nhiệm với việc bảo tồn văn hóa và chữ viết của dân tộc mình nên dẫu nhuận bút có thấp, thậm chí không có thù lao, tôi vẫn tiếp tục sáng tác bằng cả hai thứ tiếng”. Sự tha thiết với xứ sở dân tộc mình là nhịp tim thầm kín bền vững nhất trong từng bài thơ của Y Phương và là cốt lõi trong giọng hát Y Phương. Y Phương có thể vẽ chân dung những người con của dân tộc mình, quê mình bằng những đường nét chắc chắn của nhận thức và tín ngưỡng. Y Phương khái quát hình ảnh họ, bên trong cái vẻ thô sơ là vẻ đẹp kì vĩ của sử thi:
“Da thịt người da thịt đất đai
Cùng một màu đồng hun lặng lẽ
Nặng nhọc cười
Nặng nhọc người đàn bà đeo gùi
Nặng nhọc hai bầu vú mọng căng như nước
Nặng nhọc hai bầu vú phì nhiêu như đất
Đất nước
Sinh ra từ ngực người đàn bà”
Theo Trúc Thông, “Y Phương không yêu dân tộc mình ở đầu lưỡi, lạm dụng chất dân tộc. Qua tất cả những cảnh huống sinh hoạt vật chất và tinh thần hiện thực, những đam mê và đau khổ trần trụi, những chìm lặng không sao nói hết và những sự thật cuộc đời... Y Phương tiếp tục phát hiện vẻ dân tộc mình”. Không một thứ gì có thể thay đổi con người ông, không gì có thể làm mờ đi những vẻ đẹp Tây trong những câu thơ và cả trong cuộc sống hằng ngày của ông. Và những vẻ đẹp ấy mỗi ngày lại lớn lên và bất diệt trong tâm hồn ông và trong tác phẩm ông. Văn hóa của dân tộc ông chính là hơi thở ông, là máu chảy trong huyết quản ông, là tôn giáo của ông và là đạo sống của ông. Bởi thế mà thơ ca của ông là giọng nói của thời đại ông sống nhưng ngập tràn tinh thần văn hóa Tây huyền ảo và thâm sâu...
Nhà văn viết ra một tác phẩm thực ra là sinh hạ một sinh thể. Mà đã sinh hạ thì thật khốn điệu, biến hóa khôn cùng. Nhưng dù biến hóa đến đâu, nó luôn cần những người đón đọc. Văn học, nói như Thanh Thảo, nó “sẵn sàng gặp gió, gặp bão, riêng sự hững hờ là nó không đón gặp”. Câu hỏi “Một đứa trẻ lớn lên sẽ thành một con người như thế nào nếu trong tâm hồn chúng không tràn ngập những vẻ đẹp văn hóa dân tộc, tràn ngập tình yêu con người, tình yêu thiên nhiên và những giấc mơ trong trẻo” thật ra là dùng cho tất cả mọi người. Người ta sẽ sống như thế nào nếu trong tâm hồn chúng không tràn ngập những vẻ đẹp văn hóa dân tộc, tràn ngập tình yêu con người, tình yêu thiên nhiên và những giấc mơ trong trẻo? Văn chương ngày nay liệu có thể khiến người ta sống nhân văn, nhân phẩm và phong phú hơn không? Trong thời khủng hoảng, văn chương không thể giúp con người no đủ vật chất, văn chương giúp người ta kết nối với những giá trị tinh thần. Trong một thời đại truyền thông lên ngôi, đôi khi người ta chẳng thể đủ nhẫn nại để “tìm mình trong thế giới tuổi thơ”, những đứa trẻ không biết về hình ảnh con trâu lấm bùn, những truyện cổ Andersen hay cổ tích Việt, nhưng những con sóng Youtube, Tik Tok lại khiến con người ta mê say. Nhưng quên đi văn học không hẳn là quên đi một thế giới ngôn từ, mà là quên đi một miền kí ức, một nguồn cội, một văn hóa nơi bao vẻ đẹp phong tục, tập quán, con người và thiên nhiên đầm thắm. Mà con người nếu đã mất đi nguồn gốc thì có khác gì cây không rễ đâu? Chỉ tồn tại ngày một ngày hai chứ làm sống có thể sống sâu, sống hết mình trọn một đời?
Chủ tịch hội nhà văn – Nguyễn Quang Thiều đã phát biểu rằng Văn học Việt Nam lâu nay bị khuất lấp, thế giới vẫn đang nhìn nhận chúng ta như trong một cuộc chiến tranh, như một bãi chiến trường, chưa bao giờ coi chúng ta là một nền văn hoá. Khi tôi nói chuyện với một thượng nghị sĩ Mỹ, ông ấy đã nói với nhà văn rằng: “Chúng tôi đã thất bại trong chiến tranh, quân sự, chính trị, nhưng lại thắng khi đã phát hiện ra một nền văn hoá”. Mỹ đã trao giải thưởng cho những người nghiên cứu về hậu quả chiến tranh thông qua văn chương.
Nguyễn Quang Thiều nói thêm: “Bây giờ đến lúc chúng ta phải hiện thực hoá nền văn chương bằng những tác phẩm cụ thể trong suốt chiều dài lịch sử. Cần phải dịch tác phẩm Việt Nam để chuyển tải tư tưởng, tình cảm, vẻ đẹp của Việt Nam ra thế giới. Nếu nhà nước không đồng hành, tài trợ, đặt hàng thì không thể làm được vì đây là một câu chuyện rất lớn”. Thừa nhận xem văn chương thế giới đã đi một con đường rất dài, rất rộng, và vượt trội về tất cả mọi phương diện, nhất là tầm tư tưởng. Nhưng, trong quá trình hội nhập và mở rộng biên độ giao lưu văn hoá ngôn ngữ, nhờ thế, văn chương đương đại Việt cũng được dự phần kết nối mạnh mẽ với nền văn chương đương đại thế giới, và bắt đầu đạt được một số thành tựu cụ thể qua các giải thưởng văn học quốc tế. Và phải chăng “Chưa bao giờ những cơ hội tới, thuận lợi như bây giờ, chỉ có dám dũng cảm và dấn thân để làm hay không mà thôi”.
Văn chương đậm đà bản sắc văn hoá là một niềm tự hào của bất kì công dân nào nhưng đồng thời cũng là một thách thức lớn đối với những ai cầm bút. Ngày nhỏ, tôi từng mơ mộng về những cánh diều trong, về con trâu đen, về áng lúa vàng. Tôi từng nghĩ cánh diều chỉ là cánh diều, con trâu chỉ là con trâu và lúa vàng cũng chỉ là lúa vàng. Nhưng trong văn học, tôi biết cánh diều là ước mơ, con trâu và lúa vàng là người bạn và lúa vàng là thành quả của lao động. Văn học đã nuôi tôi trong những giấc mơ hè, cho tôi đặt mình vào dòng chảy của văn hoá, để biết rằng mình có nguồn gốc, có nơi thuộc về, có trách nhiệm bảo tồn và phát huy những giá trị tích cực. Dòng chảy văn học, ở đó tôi đã trưởng thành…
Nguyễn Hoàng Khang