Ngày 30/11 vừa qua, Cục Nghệ thuật biểu diễn đã tổ chức Công bố bình chọn “50 tác phẩm văn học, nghệ thuật biểu diễn Việt Nam tiêu biểu, xuất sắc sau ngày đất nước thống nhất (1975-2025).” nhằm tri ân và ghi nhận những đóng góp to lớn của các thế hệ văn nghệ sĩ, những người đã dùng nghệ thuật để lưu giữ lịch sử, bồi đắp tâm hồn và nhân cách Việt Nam với các tác phẩm kinh điển như “Mưa đỏ” của Chu Lai hay “Nỗi buồn chiến tranh” được chấp bút bởi Bảo Ninh. Đây cũng là dịp để ta nhìn nhận một cách sâu sắc về thực trạng văn chương đương đại của Việt Nam - nền văn chương đang chọn một cách viết êm đềm, không “gây hấn” và cũng khó tạo được tiếng vang hay một sự đánh động đủ lớn trong lòng bạn đọc.
1. “Văn chương sinh ra để đặt câu hỏi khó, chứ không để dạy những bài học dễ”
Trong một xã hội khi con người ta đang dần quen với nhịp sống rút gọn, người ta muốn những câu chuyện dễ thương như một đoạn reel lướt qua trong im lặng của ngón tay, muốn chữ nghĩa mềm và nhanh, không đòi hỏi phải dừng lại. Câu dài thành chướng ngại, khoảng trống thành lãng phí, sự phức tạp thành nỗi mệt. Và quen viết trên mạng xã hội, người viết nhận ra thuật toán chỉ tưởng thưởng cho những gì nhẹ, ngắn, dễ yêu. Dần dần, chữ bị uốn theo phần thưởng vô hình ấy; văn chương bị thu nhỏ thành những mẩu dễ nuốt. Khi thị hiếu ưu ái cái mỏng, ta mất dần khả năng chịu đựng cái dày của tư tưởng. Điều đáng lo không phải là văn chương ít người đọc, mà là người đọc ngày càng sợ ở lại lâu hơn với một câu chữ. Văn học không hẳn chỉ cần được thích thú; nó cần được đọc, được tranh cãi, được nghi ngờ. Chỉ khi dám làm người đọc khó chịu, nó mới thực sự sống. Nếu có một giải thưởng xứng đáng thì hãy trao cho tác phẩm khiến người đọc mất ngủ - không phải vì sợ hãi, mà vì vừa nhận ra chính mình. Một cuốn sách làm ta không còn yên ổn trong vùng an toàn của tư tưởng, khiến ta tự hỏi lại những điều tưởng như đã chắc chắn. Đó mới là phần thưởng thật của văn chương: làm cho con người không thể quay trở lại như cũ sau khi đọc xong. Nhưng văn học không thể chỉ dừng ở mức "không ai phàn nàn". Nó cần bóng tối, cần va chạm, cần những câu hỏi không dễ nghe. Chỉ khi ấy, tác phẩm mới ở lại lâu trong lòng người đọc. Và nếu có điều gì cần cho văn học Việt bây giờ thì đó chỉ là một điều giản dị: thêm một chút can đảm để đi xa hơn vùng an toàn, và thêm một chút trung thực để nói ra một điều gì đó thật, dù nhỏ.
2. Sự “lưng chừng” trong văn chương Việt
Những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, tiểu thuyết của Bảo Ninh xuất hiện trong cao trào văn chương đổi mới (khoảng hai thập niên cuối thế kỷ XX) đã mang đến nhận thức mới cho người đọc về hiện thực và cuộc sống, khiến người đọc phải băn khoăn, suy nghĩ, và đã cấp cho người đọc một cách hiểu khác về văn chương. Thế nhưng cao trào đó chững lại khá nhanh và đột ngột khiến dòng chảy văn chương Việt trở nên "cũ lại" một cách êm đềm, dễ chịu. Và tại sao văn chương Việt cũ đến khó chịu như vậy? Trước hết là bầu khí hậu xã hội và văn chương bị quy định thế và an phận thế. Làm thế được an toàn và được ban thưởng. Thứ đến là tự những người sáng tạo văn chương cũng bằng lòng chấp nhận thế. Và thứ nữa là công chúng đọc cũng bị ru ngủ và nuôi dưỡng thế. Người viết không có sự thôi thúc tự thân và người đọc không có sự đòi hỏi bản thân, thế tất văn chương Việt trượt thân theo quán tính cũ. May mà, trong một quán tính như thế vẫn có những nhà văn lâu nay vẫn âm thầm viết văn theo cách của mình, chấp nhận chịu đựng những cuốn sách của mình in ra như bị rơi vào vùng trống văn chương Việt. Họ không dễ được người đọc biết đến và tìm đọc. Nhưng chính những quyển sách đó sẽ có thể làm mới và sẽ góp phần đưa văn chương nước nhà vượt thoát được tình trạng an toàn bảo mệnh hiện nay.
(Nguồn tham khảo: Báo Tuổi trẻ)
NGUỒN: GÁC VĂN.VN